Bài giảng của Đức Choeze Rinpoche cho nhóm đệ tử Việt Nam ngày 02.06.2018

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

Thầy trì tụng Thỉnh nguyện gia trì từ đức Kim Cang Trì

Xin chào mọi người (Thầy chào bằng tiếng Dzongkha của người Bhutan). Đầu tiên, Thầy xin lỗi các bạn vì vừa rồi Thầy khá bận rộn nên không thể chia sẻ giáo pháp cho các bạn mấy ngày vừa qua. Hôm nay có một ít thời gian rảnh rỗi, thầy liền nghĩ đến các bạn. Thầy nghĩ rằng có lẽ sẽ rất tốt nếu Thầy chia sẻ một vài lời trong group này.

Chúng ta có group chat này, chúng ta là những hành giả quan tâm đến thực hành Phowa và có một lòng sùng mộ đối với giáo lý này. Vì thế lẽ ra chúng ta chỉ nên nói về những gì liên quan đến Phowa, đáng lẽ phải như thế. Nhưng suy cho cùng Thầy nghĩ rằng toàn bộ Giáo Pháp, với tư cách là những hành giả, chúng ta cần phải tụ hội lại được toàn bộ các giáo lý về một mối. Nếu chúng ta là những hành giả Phowa, chúng ta phải tụ hội lại được 84,000 giáo pháp của Đức Phật trong 1 pháp hành Phowa này. Nếu chúng ta là những hành giả Chod, mỗi một hành giả Chod cần phải biểu trưng cho 84,000 giáo pháp của Đức Phật. Vì lý do đó, để có thể tích tập lại được 84000 giáo pháp trong một pháp hành mà chúng ta thực hành mỗi ngày trong suốt cuộc đời mình, để có thể kết tinh toàn bộ vào một mối thì theo Thầy nghĩ, đầu tiên chúng ta cần phải hiểu [thế nào là] kết tinh toàn bộ giáo lý vào trong một thực hành. Bởi vì như ta đã biết, rất khó để có thể thực hành toàn bộ các pháp. Đức Phật đã thuyết giảng 84,000 pháp và nếu chúng ta muốn thực hành toàn bộ, khoan nói đến chuyện thực hành mà chỉ cần nhớ được tên của các Pháp thôi thì cũng đã rất khó rồi. Vì vậy điều chúng ta có thể làm là kết tinh được toàn bộ các giáo lý trong 1 thực hành, hiểu được như vậy thì thực hành của chúng ta sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ.

Trước khi nói thêm về chủ đề này, Thầy nghĩ mình cần phải giải thích một chút về chag tsel - lễ lạy. Một nữ đệ tử của Thầy đã hỏi rằng liệu có cần phải nhận tri - nghĩa là các chỉ dẫn - để thực hành lễ lạy hay không? Thầy đã giải thích bằng tiếng Tạng, nhưng sau đó cũng có một vài đệ tử thỉnh cầu Thầy giảng lại bằng tiếng Anh.

[Đối với] Bất kỳ một thực hành theo truyền thống Kim Cang Thừa nào thì việc có được wangtri là vô cùng quan trọng. Wang chính là quán đảnh, điều này cũng giống như một hạt giống. Và tri chính là các chỉ dẫn, cũng chính là cách để nuôi trồng hạt giống. Như thế, hai khía cạnh này phải luôn luôn hiện diện trong bất kỳ một thực hành nào, theo truyền thống Kim Cang Thừa. Vì vậy, wang là vô cùng quan trọng và phải được truyền từ một vị đạo sư chứng ngộ. Ví dụ, nếu các bạn muốn nhận quán đảnh của Đức Quán Thế Âm thì vị đạo sư ấy phải hoàn thiện một số thực hành Quán Thế Âm. Khi một vị đạo sư muốn ban quán đảnh Quán Thế Âm, Chenrezig wang, thì vị ấy, đương nhiên có rất nhiều những yêu cầu cao tột đối với một vị đạo sư ban quán đảnh. Có rất nhiều yêu cầu, nhưng ít nhất, hoặc yêu cầu tối thiểu để một vị đạo sư có thể ban quán đảnh cho người khác là vị ấy phải thuộc về một dòng truyền thừa thanh tịnh truyền từ đạo sư của vị ấy. Vị đạo sư ấy phải [thuộc về] một dòng truyền thừa vô cùng thanh tịnh. Như thế, chúng ta mới kết nối được với chư đạo sư thông qua wang. Đó là cách chúng ta thọ nhận các quán đảnh. Thực ra quán đảnh có nghĩa là một lời giới thiệu. Quán đảnh có rất nhiều những ý nghĩa sâu xa, nhưng cách dễ nhất [là xem] quán đảnh như một lời giới thiệu chúng ta đến các bổn tôn. Đây là cách giải thích dễ dàng nhất. Nhưng thực ra còn có rất nhiều tầng nghĩa khác, [tiếng Tạng gọi là] wang shi, 4 [cấp độ] quán đảnh, hay 4 [cấp độ] khai ngộ. [Mỗi cấp độ] lại có những ý nghĩa khác nhau, những yêu cầu chứng nghiệm khác nhau trong thực hành mật điển, và còn nhiều điều khác. Thế nhưng lúc này, điều quan trọng là [phải hiểu rằng] nhờ những quán đảnh mà chúng ta mới được kết nối với dòng truyền thừa. Đó là điều vô cùng quan trọng. [Chúng ta kết nối] qua sức mạnh của lòng sùng mộ từ chính bản thân chúng ta, và bằng năng lực từ bi, gia trì của vị đạo sư, của đạo sư của vị đạo sư ấy. Chúng ta gọi đó là sự gia trì của chư đạo sư dòng truyền thừa. Qua sự thực hành đó, qua kết nối đó, chúng ta gắn kết với chư đạo sư, và như thế ta đã trở thành một phần của dòng truyền ấy. Đó là ý nghĩa của việc thọ nhận quán đảnh.

Sau khi đã nhận quán đảnh, nếu chỉ nhận không thì cũng chẳng có tác dụng gì. Cũng giống như khi ta thả một hạt giống xuống đất. Nếu chúng ta chẳng làm gì với hạt giống ấy, chỉ thả xuống thôi trong khi lẽ ra chúng ta phải chăm sóc cho nó, phải tưới tắm cho nó, phải làm nhiều bước nữa mới có thể nuôi dưỡng được hạt giống đó. Những việc làm đó là vô cùng quan trọng. Vì thế, các chỉ dẫn, tiếng Tạng gọi là trika, là vô cùng quan trọng sau khi nhận được quán đảnh.

Qua quá trình và các thực hành này, một hành giả phải kết nối bản thân mình với giáo lý Kim Cang Thừa. Thầy nghĩ rằng, đối với người dân Bhutan, Thầy có thể nói rằng những người Bhutan, những người Tây Tạng, thậm chí cả người Trung Quốc nữa đều có những kết nối rất sâu sắc đối với giáo lý Kim Cang Thừa. Chúng ta được sinh ra từ những kết nối với các giáo lý Kim Cang Thừa vì vậy Thầy nghĩ rằng đây là một nhân duyên vô cùng tốt lành để có được cơ hội này. Tuy thế, cũng có rất nhiều những hành giả đến từ những gia đình phật giáo, gia đình kim cương. Họ đã thọ nhận vô vàn quán đảnh nhưng cuối cùng thì lại chẳng biết gì về những điều trọng yếu.

Khi nãy chúng ta đang nói về lễ lạy. Khi chúng ta thực hành lễ lạy, điều quan trọng đầu tiên chúng ta cần phải chú ý là về tư thế của thân. Thầy không rõ là giải thích qua audio thì có được không nhưng Thầy cũng sẽ thử: hai chân không được cách xa nhau. Hai chân phải chạm vào nhau, giữ thân thẳng, hai tay chắp lại. Khi đó, chúng ta tụng “Lama la Kyab Su Chio”. Khi thực hành lễ lạy chúng ta có thể khấn bất kỳ lời cầu nguyện nào, mỗi một truyền thống đều có các bài khấn nguyện riêng. Sau đó, ngực và bụng phải chạm đất, và sau cùng trán phải chạm đất. Như thế được tính là 1 lạy. Tư thế như sau: hai tay chắp vào nhau, lễ đầu tiên đưa hai tay lên đỉnh đầu. Một vài người đưa tay lên đỉnh đầu, một vài người đưa hai tay ngang trán ngay vị trí chân tóc – dra tsam. Vị trí thứ hai là tại cổ họng. Một vài người để tại vị trí ngang miệng. Một vài vị đạo sư nói rằng như thế này là điềm rất xấu cho sự thực hành của mình. Điều này rất quan trọng, vì vậy, đừng để tay ngang miệng mà hãy để tại vị trí cổ họng. Nếu không chạm được vào họng thì cũng không sao cả, hãy để tay ở đây như thế này [Vị trí gần cổ họng, dưới cằm]. Cuối cùng, hai tay chạm nơi tim. Đó chính là tượng trưng cho thân, khẩu, ý. Sau đó chúng ta quỳ xuống, hai gối chạm đất, hai tay chạm đất.

Thực ra, ngondro chính là tất cả mọi thứ, giống như khung xương chống đỡ cả một toà tháp vậy. Ví dụ đó tốt hơn là chỉ xem ngondro như một nền tảng. Nếu các bạn đang thực hành ngondro thì các bạn sẽ biết rất rõ mục đích chính của thực hành lễ lạy. Nếu không thì đây chính là thực hành nền tảng để đưa đến sự chứng ngộ và tri thức của chúng ta. Đó chính là 4 trụ cột, hay có thể nói là bốn kết cấu. Tất cả các pháp hành đều cần 4 kết cấu này vì chúng là vô cùng trọng yếu. Không có những điều ấy thì ta sẽ chẳng thể nào thấu hiểu được giáo pháp, thọ nhận được năng lực gia trì. Sẽ chẳng thể nào có được những điều ấy. Trong thực hành Ngondro, pháp đầu tiên chính là quy y - kyab su dro wa/chamdro. Chamdro là để kết nối bản thân ta với Phật, Pháp, Tăng, với Đạo sư. [Tuy thế phải hiểu rằng] chỉ kết nối với Phật, Pháp, Tăng thôi là chưa đủ, ta còn cần phải nỗ lực nữa. Vì thế, tịnh hoá chính là bước thứ hai. Bước thứ ba chính là tích tập công đức qua thực hành cúng dường mandala. Cuối cùng chính là thực hành Guru Yoga.

Như thế trong 4 pháp tu ngondro, pháp đầu tiên chính là thực hành lễ lạy. Thực hành lễ lạy là lúc chúng ta kết nối bản thân mình với Đức Phật qua thân khẩu ý. Khi lễ lạy, chúng ta dùng thân vật lý này như thể tập thể dục để kết nối thân ta với Đức Phật, Pháp, Tăng. Khẩu chúng ta trì tụng lời cầu nguyện đến lama, yidam, khandro, sangye, chö, gendun. Mỗi truyền thống lại có một lời khấn nguyện khác nhau. Trì tụng như thế là [kết nối về] khẩu và cuối cùng là ý. Hãy quán tưởng rằng phía trước chúng ta chính là Đức Phật, phía sau người là 84000 giáo pháp. Vòng xung quanh tất thảy là các Bồ Tát và Alahán. Bước quán tưởng này còn gọi là quán tưởng cây quy y, hay còn có rất nhiều tên gọi khác nữa. Nhưng cuối cùng điều chúng ta cần quán tưởng chính là toàn bộ chư Phật, Pháp và Tăng đang hiện hữu phía trước chúng ta. Quán tưởng như vậy là vô cùng quan trọng. Như thế, lễ lạy chính là một thực hành vô cùng trọng yếu với tất cả mọi hành giả, vì đó là cách chúng ta kết nối bản thân mình với đức Phật. Có rất nhiều những giáo huấn về lễ lạy, Thầy nghĩ chúng ta phải học nhiều hơn về thực hành này, [làm được] như thế thì rất tốt.

Ở đây thầy chỉ giảng sơ qua những điểm chính yếu, những phần quan trọng, những điều cốt lõi của thực hành này. Đương nhiên khi bắt đầu rồi chúng ta mới thấy quá trình đó không hề dễ dàng chút nào cả. Đặc biệt là đối với những người lớn tuổi, khi đó thực hành sẽ rất khó khăn. Hãy xem đó là một thử thách trong quá trình tịnh hoá để thực hành giáo Pháp. Vì vậy, thực hành lễ lạy là vô cùng quan trọng. Thầy nghĩ rằng chúng ta phải nương tựa vào, khi thầy giảng về lễ lạy, chúng ta phải nương tựa vào một trong các [dòng truyền thừa], ví dụ Nyngma, Kagyu. Mỗi truyền thống sẽ có một pháp hành Ngondro khác nhau. Khác nhau như vậy nghĩa là chúng ta sẽ có những chỉ dẫn khác nhau cho việc thực hành quán tưởng. Thế nhưng quá trình quán tưởng là như nhau.

Yêu cầu của thầy đối với các đệ tử mới là thực hành ngondro là vô cùng trọng yếu. Vì vậy, các bạn phải dấn thân vào thực hành ngondro. Thầy đã nói với rất nhiều đệ tử, ngondro khi dịch ra tiếng Anh đại loại là foundation – nền tảng. Nhưng nếu nghĩ rằng thực hành này chỉ là nền tảng không thôi thì như vậy là không đúng đắn. Khi chúng ta nói nền tảng nghĩa là chỉ thực hành lúc đầu mà thôi, sau này thì không cần nữa. Tuy thế, thực hành ngondro không phải là điều chúng ta chỉ làm lúc đầu rồi thôi. Không hề như vậy. Thực hành ngondro, ví dụ như pháp tu tịnh trừ nghiệp chướng trong ngondo, chúng ta phải tịnh hoá cho đến khi nào ta đạt thành Phật quả. Không phải là chỉ tụng chú Kim Cang Tát Đoả đủ 100,000 biến rồi thôi không tụng nữa. Nói như thế có nghĩa là ta không cần phải tịnh hoá nữa vì chúng ta đã trở nên thanh tịnh rồi. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Vì thế, thầy nghĩ rằng nói ngondro là nền tảng thì chưa đúng đắn. Thầy biết rằng một vài người trong chúng ta đã đọc nhiều sách về các vị đạo sư vĩ đại, cả cuộc đời họ dành trọn cho thực hành ngondro. Đó là những minh chứng tuyệt vời để ta thấy rằng ngondro là một thực hành chính, chứ không phải chỉ là nền tảng.

Giáo huấn Kim Cang Thừa là vô cùng thâm sâu, ví dụ như Phowa, đó là phương pháp nhanh nhất đạt được giải thoát. Tiếng tạng gọi là nyung lam Phowa. Nyung có nghĩa là nhanh chóng, lam là con đường, con đường nhanh chóng để đạt được giải thoát, cũng có nghĩa là đạt đến giác ngộ. Đa phần các thực hành trong Kim Cang Thừa đều như vậy. Vì vậy để có thể thực hành những pháp hành thâm diệu này chúng ta cần phải có một nền tảng vững chắc, có khi phải hết sức vững mạnh, chúng ta phải được chuẩn bị kỹ càng để có thể thực hành các pháp này. Vì thế cần phải có sự kết nối mạnh mẽ đến với Phật Pháp Tăng, phải có một sự tịnh hoá vô cùng mạnh mẽ các nghiệp chướng của ta, và phải tích tập được muôn bồ công đức.

Cuối cùng là Đạo Sư Du Già (Guru Yoga). Nói về Guru Yoga là đã nói sâu về giáo huấn của những pháp hành mật điển cao siêu. Vì vậy bắt buộc phải có thực hành Guru Yoga, phải nương tựa vào Guru Yoga để có thể thấu suốt được những giáo huấn cao tột ấy. Các bạn có thể nghĩ như thế này: chúng ta thành tựu được pháp hành Guru Yoga khi chúng ta đã chứng ngộ được chaggya chenpo [Đại Ấn]. Thực hành Guru Yoga của các bạn được xem là thành tựu chỉ khi nào các bạn chứng ngộ được Dzogchen. Thực hành Guru Yoga của các bạn được xem là hoàn thiện chi khi các bạn đã chứng ngộ được Mahamudra. Cho tới thời điểm đó, trừ phi chúng ta đã đạt được đến trình độ đó, nếu không thì thực hành Guru Yoga vẫn sẽ mãi mãi là tâm yếu.

Đây là những điều quan trọng trong bốn pháp tu nền tảng. Ngời ta gọi là đây là những pháp tu nền tảng nhưng có lẽ cần phải dịch rằng đây là 4 kết cấu để có thể dựng nên toàn bộ giáo Pháp, toàn bộ tri thức, toàn bộ chứng nghiệm và đặc biệt là toàn bộ gia trì. Sự gia trì là vô cùng quan trọng. Thầy có nói trong ngày đầu tiên về khái niệm “4 niệm chuyển tâm”. Đó là nền tảng của mọi nền tảng. 4 niệm chuyển tâm là nhận ra:

  • Thân người là trân quý,
  • Cuộc đời là vô thường,
  • Sự vận hành của nhân và quả,
  • Và cuộc đời này là đau khổ.

Bốn niệm này, hay bốn trực nhận này là nền tảng căn bản của vạn pháp để từ đây ta xây dựng nên một nền tảng khác, đó chính là chamdo. Từ lễ lạy chúng ta kết nối với quy y, từ quy y chúng ta kết nối bản thân với Tam Bảo. Vì thế, sau khi đã có sự hiểu biết, sự xác tín mạnh mẽ vào Đạo Sư, Phật, Pháp và Tăng, chúng ta phải [hiểu rằng] nếu không nhờ sự gia hộ của chư vị thì ta sẽ chẳng thể nào được tịnh hoá. Nhờ vào lòng sùng mộ và sự xác tín của ta mà chúng ta nhận được năng lực gia trì của chư vị, và như thế chúng ta được tịnh hoá. Đó chính là thực hành Dorje Sempa. Sau khi đã hoàn thiện quá trình tịnh hoá, [chúng ta bắt đầu thực hành tích lũy công đức]. Mỗi người chúng ta ai cũng cần phải có những mối liên kết với thế giới bên ngoài như gia đình, bạn bè, đạo sư, kẻ thù vân vân. Và mọi người đều phải ủng hộ ta thực hành Giáo Pháp. Vì vậy chúng ta cần phải tích luỹ công đức để có thể có được cơ duyên này. Thực hành tích luỹ công đức chính là pháp tu cúng dường mandala trong thực hành ngondro.

Sau cùng đó là sự kết tinh của toàn bộ pháp hành, kết tụ lại trong một thực hành về lòng sùng mộ của Guru Yoga. Khi nói về Guru Yoga nghĩa là nhắc đến một ý nghĩa vô cùng mạnh mẽ và quan trọng: rằng toàn bộ chư Phật, toàn bộ chư Tăng đã kết tụ vào một con người đang đứng ngay phía trước chúng ta đây - đó chính là đạo sư của chúng ta. Vì thế chúng ta cần phải có sự xác tín vào đạo sư, để khi nhìn vào Người chúng ta có lòng tin rằng Người chính là Đức Phật, người không khác gì Đức Phật. Lòng sùng mộ ấy khởi sinh từ lòng xác tín. Một khi chúng ta phát khởi được  chánh kiến như vậy về vị đạo sư của mình thì khi đó chúng ta đã thành tựu được pháp hành Guru Yoga. Chúng ta hãy nghĩ rằng đây là những bước chuẩn bị để có thể trưởng dưỡng bồ đề tâm, chang chub sem che pa. Đó lại là một cấp độ khác nữa.

Mỗi một truyền thống sẽ [có các nghi quỹ hành trì khác nhau], ví dụ như đặt phần trưởng dưỡng bồ đề tâm vào giữa quy y và tịnh hoá nghiệp chướng. Một vài truyền thống thì để phần thực hành này vào sau toàn bộ bốn pháp tu của Ngondro, sau Guru Yoga khi đó chúng ta mới thực hành phát khởi bồ đề tâm. Mỗi một truyền thống có một vài sự khác nhau [trong thực hành ngondro] như vậy. Có thể nói rằng trong khi thực hành lễ lạy, pháp đầu tiên của ngondro, thì ta đã thực hành trưởng dưỡng bồ đề tâm rồi. Như vậy mỗi một vị đạo sư lại có một chỉ dẫn khác nhau để thực hành pháp trưởng dưỡng bồ đề tâm.

Dù thế nào đi nữa, 4 kết cấu này [cũng đều là nên tảng] nếu ta thưc hành bất kỳ pháp tu nào trong cuộc đời mình. Đôi khi thầy cũng gặp rất nhiều hành giả, bởi vì thời buổi này việc nhận các giáo huấn cao cấp là rất dễ dàng nên họ nhận ngay lập tức mà thiếu đi nền tảng thiết yếu. Một điều đáng tiếc nữa là ngày nay mọi thứ đều được viết ra trong sách và ai cũng có thể nhận bất kỳ giáo huấn nào mà chẳng cần nền tảng. Thầy nghĩ rằng đó không phải là cách. Những hành giả đó, Thầy thấy rằng họ có kiến thức rất tốt và nhiều thứ khác nhưng cuối cùng họ lại chẳng đạt được điều gì cả. Không có kết quả, cũng chẳng có gia trì. Như vậy nghĩa là pháp ấy không có một ảnh hưởng gì đến sự thực hành của họ, và như vậy thì cũng có nghĩa là các pháp ấy đã không thể lay chuyển được tâm họ. Nếu pháp tu ấy chẳng thể lay chuyển được tâm ta, thì dù có cao tột đến thế nào chăng nữa như Dzogchen (Đại Toàn Thiện), Chagchen (Đại Ấn) hay đơn giản như Om mani padme hum, bất kể thực hành nào đi nữa, nếu pháp ấy không lay chuyển được tâm can thì điều ấy quả là lãng phí, cũng chỉ là vô dụng mà thôi.

Không có thực hành ngondro thì chẳng có pháp nào có thể đưa ta được đến bến bờ giải thoát. Ngondro vì thế trở nên vô cùng quan trọng. Thật ra người ta chỉ muốn biết về mỗi lễ lạy mà thôi nhưng Thầy phải giảng cả một tiến trình dài như vậy là bởi Thầy thấy rằng thực hành này là vô cùng trọng yếu. Vì thế nếu thời gian cho phép, nếu chúng ta đủ cơ may để thực hành và hoàn tất, đó lại là một câu chuyện khác. Đó là sự lựa chọn của mỗi người và đương nhiên cũng phụ thuộc vào nghiệp của mỗi cá nhân chúng ta nữa. Nhưng hiểu về toàn bộ [con đường] là điều vô cùng quan trọng bởi vì đối với một hành giả không có thời gian, hoặc không có đủ nghiệp duyên để thực hành pháp chẳng hạn thì ít ra hành giả đó cũng có thể khởi lên hạnh nguyện. Qua hạnh nguyện đó hành giả ấy sẽ có nhiều nhân duyên hơn trong tương lai để thực hành giáo pháp. Vì lý do đó, việc hành giả hiểu được toàn bộ [con đường] là vô cùng quan trọng. Sau đó nếu muốn chúng ta sẽ bắt đầu hành trì, và khi đã quyết định hành trì thì chúng ta sẽ càng phát khởi thêm nhiều hạnh nguyện. Đó là tại sao hạnh nguyện là vô cùng quan trọng.

Audio 2:

Về giáo lý và thực hành Phowa cũng vậy, có được nền tảng của Ngondro là rất quan trọng. Thầy tin rằng một vài người trong số chúng ta đã nhận được quán đảnh Phowa từ rất nhiều các vị đạo sư, ví dụ như Đức Ayang Rinpoche. Tuy thế thầy chắc chắn rằng các vị ấy đều nhắc đến việc phải trì giữ các giới nguyện, còn gọi là các cam kết, sau khi đã thọ nhận quán đảnh. Khi nhắc đến giới nguyện thì thường các hành giả sẽ hết sức run sợ. Họ nghĩ rằng mình phải cam kết, mình bắt buộc phải thực hiện điều này, điều kia. Sau khi nhận quán đảnh Phowa hay bất kỳ quán đảnh nào cũng vậy, mỗi ngày phải thực hiện giới nguyện này giới nguyện kia. Những giới nguyện đó làm họ hoảng sợ. [Nhưng thật ra] giới nguyện trọng yếu nhất chính là bản thân sự thực hành vậy. Bản thân sự thực hành cũng chính là mật nguyện. Chỉ cần chúng ta vẫn còn nghiêm túc hành trì thì không cần phải làm bất kỳ điều gì ngoài thực hành nữa. Đấy mới chính là cách chúng ta nên hiểu về giới mật nguyện và các cam kết.

Và cũng tương tự như bất kỳ pháp hành nào khác, Phowa cũng đòi hỏi phải có nền tảng của Ngondro, đòi hỏi phải có một kết cấu. Nếu như chúng ta muốn cất nhà mà lại không muốn xây cột, thì thực ra cũng sẽ xây được thôi nhưng chẳng chóng thì chầy căn nhà rồi sẽ sụp đổ. Thực hành như vậy không an toàn chút nào cả khi không có bất kỳ một kết cấu nào. Vì thế thực hành Ngondro đối với Thầy là điều bắt buộc. Không quan trọng là bạn thực hành Ngondro [theo truyền thống] nào, thực hành bao nhiêu lần, Thầy tin rằng, và Thầy cũng đã nghe các vị đạo sư vĩ đại khác dạy rằng những túc số như túc số mantra, túc số những lời khấn nguyện không phải là chính yếu. Điều quan trọng chính là chất lượng của thực hành đó. Dù chúng ta có thực hành mật điển, kinh điển, trì tụng, lễ lạy hay gì đi nữa thì điều chính yếu cũng phải là chất lượng của thực hành, và sự chứng ngộ. Chứng ngộ và chất lượng. Ví dụ như khi chúng ta thực hành quy y Tam Bảo, có trì tụng bao nhiêu đi chăng nữa, thay vào đó hãy trì tụng mỗi lời khấn nguyện với một xúc cảm mãnh liệt. Hãy trải nghiệm sự thực hành chứ đừng chỉ phát ra âm thanh như là chiếc máy hát. Hãy chứng nghiệm, hãy nếm trải sự thực hành. Khi đó dù chỉ tụng 100 biến thôi thì cũng tốt hơn nhiều so với việc trì tụng 100,000 biến mà chẳng nhớ nghĩ chút gì, chẳng có một chút chứng nghiệm nội tâm. Bởi vì như thế suy cho cùng có nghĩa là [pháp ấy] đã không thể chạm đến tâm ta. Ví dụ ta nói rằng phải trì tụng 100,000 biến minh chú trăm âm của Ngài Kim Cang Tát Đoả. Thế nhưng [khi trì tụng] ta lại không có bất kỳ một ý niệm nào về những ác nghiệp mình đã phạm phải, không có bất kỳ một sám hối hay ân hận nào, chỉ có trì tụng không thì sẽ vô cùng khó khăn để được tịnh hoá. Rất khó để đạt được kết quả [nếu ta thực hành như vậy]. Như thế điều quan trọng là phải chứng nghiệm được thực hành, chứng nghiệm được quy y, tịnh trừ nghiệp chướng, cúng dường mạn đà la và Đạo sư du già.

Quy y chính là có một lòng xác tín mạnh mẽ vào Đức Phật. Khi thực hành tịnh trừ nghiệp chướng thì điều quan trọng là phải dấy lên một niềm ăn năn sâu sắc. Ác nghiệp ta đã tích tập qua bao nhiêu đời kiếp nhưng giờ đây không thể nào nhìn thấy được bởi vì chúng ta không bao giờ nhớ được mình đã làm gì. Thậm chí bây giờ nếu chúng ta phải nhớ lại xem mình đã làm gì vài tuần trước thì cũng đã là rất khó rồi. Có khi để nhớ được sáng nay mình ăn món gì thôi cũng đã là không dễ. Đó chính là vấn đề của chúng ta, hay quên. Rất khó nói được mình đã phạm phải những ác nghiệp nào. Nhưng rõ ràng trong cuộc đời này ta cũng thấy được những khổ đau mà mình phải gánh chịu. Khổ đau, bệnh tật, mê lầm tất cả những thứ ấy là quả [của ác nghiệp]. Những đời trước ta đã phạm phải ác nghiệp, và bởi vì những ác nghiệp quá khứ ấy nên bao nhiêu việc không may mới xảy đến với chúng ta. Đó chính là kết quả vô cùng rõ ràng [của nghiệp nhân và quả.] Thế nhưng trong cuộc đời này có thể chúng ta sẽ nhớ được những điều sai trái mình đã phạm bởi thân khẩu ý. Những ác nghiệp này chúng ta phải gợi lên được, phải nhớ nghĩ đến và đối mặt với chúng. Và khi đối mặt được với chúng ta sẽ cảm nhận được sự tội lỗi, lòng hối hận và ăn năn sâu sắc. Thêm vào đó, không phải chỉ cảm nhận không thôi mà hãy quán tưởng đức Kim Cang Tát Đoả Dorje Sempa và cam lồ từ Ngài đang tẩy trừ đi mọi ác nghiệp trong thân ta. Có rất nhiều phương pháp có thể tận dụng chứ không phải chỉ có trì tụng minh chú, không chỉ đơn thuần là số lượng minh chú. Điều trọng yếu chính là phẩm chất của thực hành. Trì tụng một câu minh chú thôi nhưng đầy chuyên tâm thì khoảnh khắc đó chúng ta đã phơi bày toàn bộ ác nghiệp, ăn năn, hối cải đối trước Đức Kim Cang Tát Đoả. Khi đó, ta nói rằng tâm ta và tâm mọi chúng sinh đều được tịnh hoá khỏi mọi nghiệp chướng. Chính nhờ sự thấu suốt này mà thực hành tịnh hoá trở nên vô cùng mạnh mẽ.

Tương tự khi thực hành cúng dường mandala ta cũng có thể trì tụng lời cầu nguyện nhưng tâm trí lại cứ để đâu đâu. Ta nghĩ đến nhà cửa, đến công ty, đến dự án kinh doanh, đủ thứ. Như thế thì chẳng đem lại bất kỳ điều gì cả, chẳng thể lay chuyển mà cũng chẳng thể chạm được đến tâm can. Điều chúng ta cần phải làm khi thực hành cúng dường mạn đà la là khi cúng dường, quán tưởng rằng cả vũ trụ này bao gồm hành tinh này và toàn bộ những quốc gia trên Trái Đất, trong đó có đất nước của chúng ta. Ví dụ như nếu chúng ta đang ở Bhutan thì quán tưởng đất nước Bhutan. Sau đó là nhà cửa, gia đình, những sở hữu, tiền bạc, xe cộ, bất kể điều gì, gia tài hãy quán tưởng toàn bộ. Quán tưởng tất cả những thứ ấy và cuối cùng hãy [cúng dường] chính thân này cùng toàn bộ những thiện hạnh mà ta có được. Ví dụ như khi thực hành pháp hay giúp đỡ kẻ khó, vân vân…đó là những công đức từ các thiện hạnh và kể cả cái nhân của vạn pháp thiện lành, chính là Pháp tánh, tâm thức của ta, “tất cả những gì thuộc về con, con xin cúng dường lên Đạo sư cùng Tam Bảo.” Chính nhờ sự thấu suốt này mà thực hành trở nên vô cùng mạnh mẽ.

Cuối cùng là Guru Yoga. Phần này thầy đã giải thích rồi. Đối với Thầy, Guru Yoga chính là sự chuyển hoá tri kiến, có thể gọi như vậy. Chúng ta thay đổi cách nhìn nhận về vị đạo sư của mình. Cũng không hẳn là thay đổi mà [phải nói rằng] đó vốn là tri kiến chân thật và tối hậu. Lúc này đây những gì chúng ta nhìn thấy và trải nghiệm là hoàn toàn sai trái. Bởi vì những mê lầm, những ác nghiệp mà chúng ta nhìn ra mọi thứ khác nhau. Khi đó, không phải chúng ta chỉ thấy mỗi đạo sư của mình là Phật mà nhờ [thực hành Guru Yoga], cánh cửa của sự thấu hiểu, cánh của của nhận thức thanh tịnh sẽ được mở ra từ chính vị đạo sư ấy.  Khi đó, ta cũng sẽ nhận ra rằng bản thân mình là Phật, cũng giống như mọi chúng sinh, vạn pháp trên thế giới này đều là Phật. Tri kiến đó chính là ý nghĩa của thực hành Guru Yoga.

Không phải chỉ riêng Phowa mà tất cả các pháp hành trì đều cần phải có nền tảng của ngondo. Khi thầy nói Ngondro thì điều đó không có nghĩa là các bạn phải trì tụng 100,000 lần mà ngondro chính là thực hành hàng ngày của chúng ta. Cũng giống như đối với chamdrosemche  chúng ta phải luôn luôn thực hành. Ngondro phải trở thành lề thói hàng ngày của chúng ta. Trước khi thực hành Phowa, trước khi thực hành thiền chỉ, dzogchen, chagchen hay pháp gì cũng vậy, Chenrezig, Tara, trước khi thực hành bất kỳ pháp nào, hãy thực hành Ngondro, Phowa ngondro. Sau phần ngondro mới đến phần thực hành chính. Khi ấy, ngondro chính là mãi mãi, nó không có [giới hạn] 1 tháng, 2 tháng, hay 100,000 – 200,000. Ngondro phải luôn được thực hành chung với bất kỳ một pháp hành trì khác. Vì vậy, lời khuyên của Thầy dành cho các bạn rằng ngondro là cực kỳ quan trọng. Nhưng mỗi người lại có một cách hiểu khác nhau về ngondro và cũng như vậy, mỗi vị đạo sư lại có một chỉ dẫn thực hành khác nhau. Tuy thế, nếu các bạn [nói rằng] phải có một con số, ví dụ như 100,000 nếu không thì không biết đến khi nào mới xong được Ngondro thì như vậy chất lượng ở đâu đây? Ví dụ như nếu chúng ta vừa tính túc số vừa trì tụng câu chú Kim Cang Tát Đoả, bởi vì chúng ta chỉ có một cái tâm thôi nên nếu tâm này lo đếm túc số thì làm sao còn nghĩ đến chứng ngộ, đến sự thấu hiểu, đến chứng nghiêm? Lúc đó, có khi túc số lại trở thành chướng ngại. Thầy cũng không biết nói như thế này có đúng không nhưng các bạn cũng thấy qua câu chuyện về Đức Milarepa, Đức Tilopa, Đức Naropa, có câu chuyện nào nói về việc các Ngài thực hành 400,000 lần là xong Ngondro đâu. Thế nhưng các Ngài đã thấu suốt được ý nghĩa của ngondro, đã chứng ngộ được tinh tuý của ngondro và cả cuộc đời chư vị đều dành trọn cho thực hành Ngondro. Phải áp dụng thực hành như vậy để có thể hiểu hết được ý nghĩa vĩ đại của Giáo Pháp.

Ngày hôm nay thầy đã nói khá nhiều rồi, Thầy sẽ dừng lại tại đây. Thầy hi vọng ít nhiều thì các bạn cũng có thể hiểu được những điều này. Trong những ngày tới đây nếu như có thời gian thì Thầy sẽ chia sẻ nhiều hơn bởi thầy biết rằng trong số chúng ta có những hành giả vô cùng tinh tấn. Một vài người lại là những hành giả mới vì vậy Thầy rất mong muốn được chia sẻ giáo pháp. Cám ơn các bạn đã lắng nghe. Nếu có câu hỏi gì các bạn có thể hỏi tại đây. Chúc các bạn một ngày tốt lành. Vẫn chưa hết tháng Saga Dawa, sắp tới là ngày nam gang [ngày 30 của tháng theo tạng lịch] nên các bạn hãy thực hành, hãy ứng dụng, hãy quán chiếu. Hôm nay chúng ta sẽ dừng ở đây thôi. Cám ơn các bạn! Tashi Delek. 

Trang web của dòng Truyền thừa Drikung Kagyu tại Việt nam

www.drikungvn.org

logo21

Thống kê website

295309
Hôm nayHôm nay45
Hôm quaHôm qua85
Tuần nàyTuần này21
Tháng nàyTháng này870
Tất cảTất cả295309
Cao nhất 11-30-2017 : 1313
Khách 28
Người đã đăng ký 1

Facepage

Mạng xã hội