Tổ Long Thọ và tinh yếu "Trung quán" trong Phật giáo Đại thừa và Kim cương thừa

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

LongthoBoTat

TỔ LONG THỌ VÀ TINH YẾU “TRUNG QUÁN” TRONG PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA VÀ KIM CANG THỪA

Khensur Konchog Gyaltshen Rinpoche thuyết giảng tại chùa Giác Sanh - số 103 Âu Cơ, Phường 14, Quận 11, TP.HCM, Việt Nam ngày 28/12/2018

Đầu tiên, chúng ta hãy hít một hơi thật sâu rồi thở ra thật dài. Hít vào, và quán tưởng chúng ta đang nhận tất cả năng lượng gia trì của chư Phật. Lúc này, thân chúng ta tràn ngập năng lượng gia trì của chư Phật chư Bồ tát. Khi thở ra thì quán tưởng thân chúng ta đã hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Cách hít vào, thở ra như vậy là để giúp cho thân và tâm chúng ta được thư giãn. Chúng ta quán chiếu quá khứ là thứ đã qua đi, còn tương lai thì chưa tới, và chúng ta đang hiện tiền ở đây, giữa quá khứ và tương lai. Nhưng ngay cả giây phút hiện tại này thì nó cũng đang thay đổi trong từng phút giây một. Chúng ta nên an trú trong phút giây hiện tại, để tâm mình được an bình. Vì quá khứ thì đã qua đi, chúng ta không nên nghĩ về nó nữa. Tương lai thì chưa tới, chúng ta cũng không nên lo lắng. Hãy để tâm mình thư giãn trong phút giây hiện tại.

Đức Long thọ là một vị đạo sư. Trung quán là triết học của Phật giáo, nội dung của Trung quán là nói về tự tánh của vạn pháp. Chân tánh của chúng ta là vô cùng thậm thâm, vi diệu, và thật khó để nghiên cứu. Tất cả tâm huyết về trường phái Trung quán này đều liên quan đến khái niệm tánh Không. Thầy hi vọng trong chúng ta có đọc hoặc có biết về Bát nhã tâm kinh. Trong Bát nhã tâm kinh có đoạn “Sắc tức thị không, không tức thị Sắc, sắc không khác với không, không cũng không khác với sắc”. Ví dụ như bông hoa này là Sắc, và nó cũng là Không. Vậy chúng ta có thể nói tánh Không chính là hoa, và hoa không gì khác hơn chính là tánh Không. Chúng ta phải cố gắng nhớ và hiểu điều đó.

Thật ra đạo Phật không thể coi là 1 tôn giáo. Vì đạo Phật là giáo lý của đức Phật, mà Đức Phật lại là người chứng ngộ được thực tánh của vạn pháp, chứng ngộ được thực tại như nó đang là, chứ không phải là một giả định hay lý thuyết. Bởi vì Đức Phật đã hoàn toàn rõ biết chân tánh của vạn pháp như nó đang là, nên Đức Phật nói ngài hoàn toàn tự do thoát khỏi mọi đau khổ và mê mờ vọng tưởng. Đức phật nói rằng nguyên nhân của tất cả mọi đau khổ chính là vô minh. Cho nên khi ngài trực nhận được chân tánh của vạn pháp thì khi đó mọi nguyên nhân của đau khổ cũng chấm dứt. Nên đức phật khuyên chúng ta thát khỏi mọi mê mờ, vọng tưởng thì chúng ta mới chấm chứt được các nguyên nhân của đau khổ. Trí tuệ của đức Phật là như vậy.

Chúng ta hãy xem đức Phật đã đạt đến phật quả như thế nào. Chúng ta hãy nhìn tất cả chúng sinh trong 6 cõi đều mong muốn hạnh phúc, không ai muốn đau khổ. Đau khổ thì có đau khổ về mặt thể chất và đau khổ về mặt tinh thần. Bất toại nguyện cũng là 1 loại đau khổ. Như vậy, chúng ta thấy rằng hạnh phúc, an bình, niềm vui là điều mà tất cả chúng sinh đều mong muốn. Nhưng hạnh phúc đó không tự nhiên mà tới. Chúng ta có thể nói nói “Tôi mong có hạnh phúc, hạnh phúc xin hãy đến với tôi”, nhưng trên thực tế hạnh phúc không đến theo mong muốn của chúng ta. Cũng tương tự như vậy, chúng ta không muốn có đau khổ, và chúng ta nói “tôi mong đau khổ này qua đi” nhưng đau khổ đó nó cũng không qua đi theo ý muốn của chúng ta. Như vậy, tất cả các chúng sinh, dù là người hay dù là các con côn trùng nhỏ bé, đều muốn có hạnh phúc và đều dùng hết sức mình chỉ để có được hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc lại không đến với chúng ta. Tất cả các việc chúng ta làm, dù là người hay là con côn trùng nhỏ bé, chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tạo nhên nhân của hạnh phúc, và không tạo nên nhân của đau khổ. Như vậy, chúng ta đừng chỉ thờ phụng suôn thôi, cũng không nên hi vọng suôn, mong muốn suôn không thôi mà điều quan trọng là chúng ta phải ghi nhớ trong tâm nếu chúng ta thật sự muốn là người con Phật.

Vì tất cả đều có nhân duyên tương sinh, liên quan lẫn nhau. Như vậy, tất cả đều có nhân riêng của nó. Có nhân đưa đến hạnh phúc, có nhân đưa đến đau khổ. Chúng ta phải biết được nhân nào đưa đến hạnh phúc và nhân vào thì đưa đến đau khổ - đó chính là trí tuệ.

Như vậy, chúng ta biết là có những nhân bên ngoài đưa đến đau khổ, và có nhân bên ngoài đưa đến hạnh phúc. Chúng ta cần có trí huệ để nhìn thấy điều đó. Chúng ta nhìn vào tâm mình cũng như vậy, để biết những gì vi tế ở trong tâm đưa đến đau khổ, có những gì ở trong tâm rất là vi tế đưa đến hạnh phúc. Và chúng ta cần phải quán chiếu cho thật rõ. Đó chính là trí tuệ.

Tất cả những điều đó đều có trong giáo lý của đức Phật, nó là tinh túy của giáo lý đức Phật. Đức Phật có 3 lần chuyển Pháp luân. Lần 1 chuyển pháp luân ngài dạy về Tứ diệu đế. Lần 2 chuyển pháp luân ngài dạy về Bát nhã ba la mật. Lần 3 chuyển pháp luân thứ 3 ngài dạy về Như lai tạng, tức Phật tánh.

Chúng ta hãy xem xét những nguyên nhân bên ngoài đưa đến hạnh phúc của chúng ta. Trên thế giới này, tất cả mọi người đều phụ thuộc vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, giác, và phụ thuộc vào đối tượng của 5 giác quan và trần cảnh. Tất cả mọi người đều tìm kiếm hạnh phúc theo cách như vậy.

Chúng ta hãy nhìn vào thế giới này. Hiện nay, công nghệ của xã hội hiện đại đang ngày càng phát triển hơn, tinh vi hơn và tạo ra nhiều phát minh mới, nghiên cứu mới về công nghệ chỉ nhằm thỏa mãn được 5 giác quan, như  làm thế nào để mũi mình ngửi được hương thơm hơn, thân mình được xúc chạm êm ái hơn, mắt nhìn những thứ xinh đẹp hơn….Do đó, tất cả mọi người đều chạy theo sự giàu có để có được thật nhiều các đối tượng làm thỏa mãn 5 giác quan đó.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn không hạnh phúc, chúng ta vẫn không toai nguyện. Cho dù chúng ta có ngôi nhà lớn đến thế nào, có điện thoại xịn đến thế nào, tivi to thế nào…thì chúng ta vẫn không thoát khỏi cảm giác bất toại nguyện. Ví dụ như khi chúng ta mua 1 xe rất tốt để chúng ta có thể tự hào về nó, nhưng sự tự hào và cảm giác đó sẽ qua đi rất nhanh, và cuối cùng chúng ta vẫn cảm thấy không thỏa mãn. Như vậy, chúng ta cố gắng đuổi theo đối tượng của các giác quan của chúng ta, chúng ta cố gắng để trở thành những nhà chính trị nổi tiếng, người giàu có….nhưng khi chúng ta có được rồi thì chúng ta sẽ thấy hạn chế của nó. Và khi đó, chúng ta sẽ chỉ còn cảm giác không bất toại nguyện, và chúng ta sẽ không thể thoát khỏi đau khổ.

Thầy thực sự không phủ nhận mặt tốt của công nghệ hiện đại. Nhưng điều thầy muốn nói ở đây là chúng ta hãy quán chiếu sâu sắc về sự hạn chế của việc đuổi theo công nghệ hiện đại, vì nó không phải là câu trả lời cho hạnh phúc cho chúng ta. Tại sao tất cả các cuộc rượt đuổi theo công nghệ cao lại không mang lại hạnh phúc rốt ráo? Là vì tâm của chúng ta vô cùng rộng lớn và phức tạp. Chỉ có Đức Phật là người toàn giác, nên ngài mới hiểu được tâm và chỉ cho chúng ta biết câu trả lời cho hạnh phúc và đau khổ của chúng ta.

Với trí tuệ và từ bi, trong lần chuyển Pháp luân đầu tiên, Đức Phật đã dạy về Tứ diệu đế (khổ tập diệt đạo), tức Ngài dạy về đau khổ, nguyên nhân của đau khổ, sự dừng bặt của đau khổ, và con đường đạo để thoát khỏi đau khổ. Có 3 loại đau khổ: đau khổ thực có – mọi chúng sinh đều trải nghiệm, dù là con người hay con vật, đều trải nghiệm loại đau khổ này;  đau khổ do sự thay đổi – khi chúng ta có được hạnh phúc thì hạnh phúc đó cũng qua đi, và chúng ta chỉ còn lại cảm giác bất toại nguyện ở lại; đau khổ gắn với nghiệp quả và nhân duyên của chúng sinh. Như vậy, một khi chúng ta sinh ra làm hữu tình chúng sinh ở cuộc đời này, chúng ta sẽ phải chịu đau khổ. Chúng ta đau khổ vì không thoát ra khỏi sự ràng buộc của nhân quả và nghiệp lực, và cho dù chúng ta có biết nó hay không thì chúng ta vẫn chịu sự đau khổ do sự ràng buộc đó gây ra. Đức Phật cũng dạy về 10 nguyên nhân của đau khổ. Chúng ta nên tránh thập ác, làm thập thiện để tránh 10 nguyên nhân của đau khổ và tạo nguyên nhân để hạnh phúc. Với Tứ diệu đế, ngài đã dạy cho chúng ta về bản chất của luân hồi và đã đặt nền tảng cho Phật giáo. Tất cả các truyền thống Phật giáo, từ Nguyên thủy, Đại thừa hay Kim cương thừa đều có chung nền tảng này.

Có thể chia Tứ diệu đế ra làm 2 phần. Phần 1 gồm “khổ, tập”, thuộc về luân hồi, nói về bản chất của luân hồi. Phần 2 là “diệt, đạo” là thuộc về niết bàn, nói về sự dừng bặt của đau khổ và con đường thoát khổ. Tứ diệu đế bao gồm tất cả các pháp môn mà đức Phật đã trao tuyền cho chúng ta. Với tâm đại từ bi, đức Phật nhìn vào 6 cõi và nhìn thấy chúng sinh đang đau khổ. Ngài thực sự muốn giải thoát chúng sinh thoát khỏi luân hồi. Nhưng đức Phật không thể trực tiếp làm việc đó. Vì ngài biết rằng đau khổ của chúng sinh là do nhân duyên tương sinh, do sự tác động của nghiệp lực, mà nghiệp ấy không phải do ai khác tạo ra, mà là do chính chúng sinh đó đã tạo ra, do đó, chỉ có tự mình dừng nguyên nhân của đau khổ thì chúng sinh mới thoát khỏi  đau khổ được. Đức Phật đã từng nói “Ta đã chỉ ra con đường, nhưng các con phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, và chính các con sẽ tự mình giải thoát cho bản thân mình”. Đức Phật đã trao truyền giáo lý cho chúng ta, nhưng chúng ta phải đưa giáo lý ấy vào thực hành để tự giải thoát. Chúng ta có tiềm năng để thực hành giáo pháp, có tiềm năng để tạo ra nhân của hạnh phúc. Chúng ta cần phải hiểu điều tại sao chúng ta phải quy y tam bảo? Quy y Phật là bởi vì đức Phật là bậc thầy của chúng ta, là người duy nhất chỉ ra con đường thoát khổ. Quy y Pháp là bởi vì Pháp là giáo lý của Phật, giúp chúng ta thoát khổ . Quy y Tăng bởi vì Tăng là người dẫn dắt chúng ta tới giác ngộ. Hiểu được điều này, chúng ta sẽ thấy chúng ta thật hạnh húc và may mắn vì chúng ta gặp được giáo lý của đức Phật, gặp được Tăng đoàn để hướng dẫn chúng ta đi đến bến bờ giác ngộ, đạt được hạnh phúc. Đặc biệt trong thế kỷ 21, chúng ta cần phải song hành “văn tư” và “tu”, tức là vừa nghiên cứu giáo lý vừa đưa giáo lý ấy vào thực hành. Bởi nếu chúng ta chỉ có lý thuyết mà ko có thực hành thì chúng ta như con chim chỉ có 1 cánh, không thể bay lên được.

Đức Phật đã trao truyền giáo lý hơn 2500 năm trước đây. Cho đến bây giờ, đã có quá nhiều thay đổi, từ nền văn hóa, lối sống của con người, cho đến các hệ thống đức tin cũng thay đổi. Nhưng những lời dạy của đức Phật về Tứ diệu đế vẫn hoàn toàn giữ nguyên giá trị của nó, bởi vì nó là chân lý. Ví như lửa 2500 năm trước nóng thì bây giờ vẫn nóng, băng của 2500 năm trước lạnh thì bây giờ vẫn lạnh. Chúng ta cần phải có trí huệ để hiểu được giáo lý của đức Phật. Mặc dù trí huệ của chúng ta chưa đủ lớn để có thể thâm nhập vào trí tuệ của đức Phật nhưng chúng ta cần phải có lòng tin nơi giáo lý của ngài. Và chúng ta không có con đường nào khác ngoài việc học giáo lý và đem giáo lý ấy vào thực hành để từng bước một đoạn diệt đau khổ.

Vì sao thầy vẫn chưa đi vào Trung Quán, mà lại nói kỹ về Tứ diệu đế. Là vì tánh Không cũng không thể siêu vượt nhân quả, tánh Không phải đặt trên nền tảng của nhân quả. Nếu thầy chỉ nói về tánh Không mà không nhắc gì đến nhân quả thì chúng ta sẽ rơi vào huyễn, chúng ta sẽ nghĩ là “ồ, mọi thứ đều là không hết, vậy chúng ta đã được tự do, và không bị tác động của nghiệp lực nữa”, và thế là chúng ta bị kẹt. Do đó thầy phải dạy nhân quả trước. Nếu chúng ta không có trí huệ về nhân quả thì chúng ta sẽ giải quyết cơn đau của chúng ta như thế nào? Vì sao Đức Phật không dạy tánh Không trước? Là vì mọi người phải hiểu được đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ, hiểu được con đường thoát khổ trước, nếu không thì sẽ dễ bị đi lạc trong tánh Không.

Chướng duyên lớn nhất của chúng ta là vọng tưởng. Hãy nhìn vào cách đức Phật giáo hóa chúng sinh, tuần tự từng bước 1, từ những người sơ cơ cho đến các bậc Bồ tát. Là đệ tử của đức Phật, chúng ta phải xây dựng niềm tin kiên cố vào nhân quả. Nếu không có niềm tin kiên cố vào nhân quả thì chúng ta sẽ không có trí huệ. Thầy đã thấy có nhiều người chỉ toàn tu tánh Không. Nhưng càng tu thì họ lại càng chìm trong vô minh và vọng tưởng. Cuối cùng thì họ bỏ tu luôn. Đó là những người không may mắn. Chúng ta phải quán chiếu về nhân quả một cách sâu sắc thì chúng ta mới có được trí tuệ, mới có được nhiềm tin kiên cố và không đi sai đường.

Nguyên nhân sâu xa nhất của việc chúng ta chịu khổ đau trong luân hồi là bởi tâm vô minh, bám chấp vào huyễn cảnh. Các bậc trí là người đã hiểu được chân tánh, đã dẹp bỏ huyễn cảnh của tâm. Vì chúng ta có thân ngũ uẩn nên chúng ta đau khổ. Bản chất của luân hồi và niết bàn phụ thuộc vào tâm của chúng ta cảm nhận thực tại này như thế nào. Tùy vào cách tâm chúng ta kết nối với ngũ uẩn như thế nào mà chúng ta trụ trong luân hồi hay niết bàn. Niết bàn không phải là nơi chốn đặc biệt nằm ngoài tâm. Niết bàn chính là cảnh giới của tâm. Luân hồi cũng như vậy.

Tâm và thân của chúng ta luôn thay đổi. Phút này chúng ta vui vẻ, phút sau chúng ta cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên khi chúng ta tìm kiếm nguyên nhân bên ngoài khiến chúng ta cảm thấy khó chịu thì chúng ta lại không tìm thấy nó. Và điều đó càng khiến chúng ta khó chịu hơn. Ví dụ như khi chúng ta đói, việc đầu tiên chúng ta nghĩ đến là làm thỏa mãn cảm giác khó chịu này, và chúng ta nghĩ ngay đến việc phải ăn. Chúng ta luôn tìm giải pháp ở bên ngoài cho mọi vấn đề của chúng ta. Nhưng điều đó là không đúng. Nguyên nhân của đau khổ nằm sâu hơn. Thân của chúng ta ngũ đại. Khi đói thì đất đại của chúng ta không đủ, nên chúng ta phải ăn. Khi thủy đại bị thiếu thì chúng ta thấy khát, và chúng ta tìm một thứ gì đó để uống. Chúng ta luôn tìm giải pháp bên ngoài và nghĩ rằng như thế là đã giải quyết đau khổ của chúng ta, nhưng thực ra đó không phải là nguyên nhân thực chất của đau khổ của chúng ta.

Vô thường có nghĩa là thay đổi, vạn pháp giả hợp đều thay đổi và không có sự lựa chọn nào khác. Tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh và đều chịu quy luật vô thường. Thay đổi là quy luật của vạn pháp. Chúng ta phải phát triển trí huệ để xuyên qua hiện tướng bên ngoài giả hợp để nhìn vào thật tướng của vạn pháp. Chúng ta hãy nhìn các hiện tượng xung quanh chúng ta. Ví dụ như khi chúng ta nghe tin người hàng xóm của chúng ta qua đời thì chúng ta phải nghĩ ngay đến vô thường. Hoặc khi chúng ta nhìn bông hoa này, thấy nó đẹp nhưng chúng ta phải nghĩ đến ngày mai nó sẽ héo úa, đó cũng là một biểu hiện của vô thường. Chúng ta nhìn mọi pháp trong thế gian sẽ thấy rằng tất cả các hiện tượng trong thế gian này đều sẽ dời đổi, như cái chết của một bông hoa, là quy luật không thể dời đổi và không ai có thể kiểm soát được quy luật đó. Vì sao lại có quy luật vô thường? Có vô thường là do lý nhân duyên. Chính do nhân duyên tương sinh và vạn pháp giả hợp sẽ thành, tụ, hoại và diệt. Vô thường cũng là quy luật của vạn pháp, và là 1 phần của luật nhân quả. Hiểu được vô thường, chúng ta sẽ hiểu được luật nhân quả.

Vô thường nghĩa là luôn luôn dời đổi. Khi chúng ta quán chiếu và hiểu được Vô thường, có thể nhìn xuyên qua các hiện tượng để nhìn thấy được thật tánh Vô thường của tất cả các sự vật hiện tượng thì chúng ta sẽ phát triển được tâm không dính mắc. Đó chính chúng ta đã phát triển được trí tuệ. Khi chúng ta bớt tham luyến và dính mắc thì chúng ta sẽ bớt đau khổ. Chẳng hạn chúng ta quan sát thấy thân ngũ uẩn của chúng ta không phải chắc đặc mà gồm nhiều thứ hợp lại mà thành. Mọi sự vật trong thế gian này cũng như vậy, đều gồm nhiều thành tố. Khi các thành tố hợp lại thì thành, khi rã ra thì tan. Nếu chúng ta có trí huệ quán sát như vậy thì chúng ta sẽ thấy bản chất giả tạm của mọi sự vật. Nếu chúng ta tiếp tục quán sát như vậy thì dần dần những vọng tưởng, những cảm giác sai lầm của chúng ta sẽ tan vỡ như những bong bóng nước. Đó là cách mà chúng ta dần dần thâm nhập giáo lý tánh Không.

Nếu chúng ta không hiểu được nhân quả, lý duyên sinh và Vô thường mà chúng ta tiếp tập ngay với tánh Không là cách tiếp cận nhị nguyên. Có nghĩa là chúng ta không thật sự cảm nhận được sắc và không là hoàn toàn hợp nhất, như trong câu “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Khi hiểu được nhân quả, nhân duyên thì chúng ta sẽ bớt dần đi vọng tưởng. Khi đó, chúng ta sẽ có cơ sở và nền tảng để thâm nhập vào giáo lý tánh Không? Thật sự thì ngay bây giờ, chúng ta đang nuôi rất nhiều ảo vọng. Khi chúng ta nói “ôi, tôi hạnh phúc” thì phải quán sát vì sao chúng ta lại cảm thấy hạnh phúc? Đó có phải là hạnh phúc dựa trên cái tôi của mình, do chúng ta đang được thỏa mãn cái tôi hay không, nếu cái tôi không được thỏa mãn thì mình có còn thấy hạnh phúc hay không? Điều quan trọng là chúng ta phải nhận thấy hạnh phúc dựa trên cái tôi của mình không phải là chân hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ đạt được thông qua việc chúng ta có trí huệ nhìn thấy thực tại đúng đắn. Khi đó chúng ta mới thực sự có an bình trong tâm, dù chúng ta đang ở trong hoàn cảnh sống như thế nào. Một khi chúng ta còn cái chấp ngã thì chúng ta còn nhân của đau khổ, vô minh.

Đôi khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta có tụng chú là chúng ta đang có từ bi. Nhưng như thế là không phải. Chỉ khi nào chúng ta có tâm bi với chúng sinh khác thì chúng ta mới thực sự đang đi trên con đường tu. Điều quan trọng là tâm của chúng ta đang ở trong trạng thái nào mới quyết định là chúng ta có đang tu hay không. Một khi chúng ta thực sự mở rộng lòng của mình với mọi chúng sinh khác thì khi đó tâm của chúng ta sẽ rộng lớn. Và khi chúng ta trưởng dưỡng được tâm từ bi của chúng ta đối với tất cả hữu tình chúng sinh thì khi đó gọi là tâm bồ đề, tâm đại bi. Bồ đề tâm lớn mạnh thì đó chính là nhân vững chắc nhất của hạnh phúc. Tâm từ bi của chư Phật là tâm bình đẳng, dành cho tất cả hữu tình chúng sinh. Và nó mới chính là nền tảng của Bồ đề tâm. Chúng ta phải kết hợp được từ bi và trí tuệ, chính là phương tiện và tánh không hợp nhất, thì không còn chỗ cho vô minh và vọng tưởng, là nền tảng để thoát khỏi khổ đau.

Bốn câu kệ của tổ Long Thọ để tóm tắt lại giáo lý của đức Phật trao truyền

“Vô sinh vô diệt

 Vô khứ vô lai

Vô thường vô đoạn

 Vô nhất vô nhị”

Chúng ta phải làm đúng phương pháp, kiên nhẫn, làm từng bước một thì chúng ta mới có thể tiếp cận được với giáo lý tánh Không. Chúng ta phải bắt đầu từ luật nhân quả và lý nhân duyên, để từ đó thấy được các pháp không có tự tánh, và phụ thuộc vào nhau, không có pháp nào có thể tồn tại độc lập mà không phụ thuộc vào pháp khác. Rồi dần dần như vậy chúng ta sẽ có thể hiểu được tánh không.

Ví dụ như khi chúng ta quan sát cái bàn. Cái bàn mới nhìn thì chỉ là cái bàn, nhưng khi chúng ta quan sát kỹ thì thấy cái bàn này gồm nhiều thành tố mà hợp thành. Nó có chân, mặt bàn, bề dài, bề rộng….Và nếu chúng ta đặt câu hỏi rằng “cái bàn to hay nhỏ” thì đều không đúng. Vì tùy vào vật đem ra so sánh với nó thì chúng ta sẽ thấy nó ta hay nhỏ. Như vậy, kết luận rằng cái bàn này nhỏ hay to thì nó cũng không hoàn toàn có lý. Rõ ràng, chúng ta phải hiểu được tính chất giả hợp, tính chất tương đối của vạn pháp, thì chúng ta sẽ thấy được mối tương quan giữa các pháp với nhau, và đó chính là khởi đầu để chúng ta có thể hiểu được tánh không. Ngày nay, trên thế giới, ngay cả ở các nước phương Tây, và cả các nhà khoa học, cũng bắt đầu tiếp cận với giáo lý tánh Không. Như vậy, giáo lý tánh Không mà đức Phật đã dạy hơn 2500 năm trước đây đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Như vậy, chúng ta có thể tự tin rằng là chúng ta là một người con Phật, và niềm tin của chúng ta không phải là một niềm tin mù quáng, mà niềm tin của chúng ta đặt trên một hiểu biết sâu sắc về giáo lý tánh Không. Như vậy, điều quan trọng là chúng ta phải đưa giáo lý của đức Phật vào thực hành. Để làm sao khi chúng ta thở ra, hít vào thì chúng ta cảm thấy rằng thân tâm của chúng ta đang được tịnh hóa, chúng ta sẽ bớt dần vọng tưởng, tham luyến, bám chấp. Khi có trí huệ thì chúng ta sẽ có được an bình, bớt đi nhân của đau khổ. Và chúng ta hiểu rằng hạnh phúc không phải do ai ban tặng, mà hạnh phúc là do chúng ta “văn tư tu”, thường xuyên quán chiếu để giải thoát cho mình khỏi vô minh vọng tưởng.

Tổ Long thọ có câu nói rất hay về mối quan hệ giữa lý nhân duyên và tánh không như sau “Lý nhân duyên chính là tánh Không, tánh Không chính là lý nhân duyên. Lý nhân duyên không khác gì với tánh không, và tánh không cũng không khác gì với lý nhân duyên”. Với lối suy nghĩ nhị nguyên thì chúng ta sẽ thấy lý nhân duyên và tánh không là hai điều khác nhau, hoàn toàn không liên quan gì với nhau cả. Nếu chúng ta thực sự tư duy, quan sát, quán chiếu để phát triển trí tuệ minh sát thì dần dần chúng ta sẽ hiểu được nhân duyên chính là tánh không và chúng ta sẽ dần bớt tâm chấp ngã. Khi chúng ta hiểu được tánh không, chúng ta sẽ thấy rằng không có cái ngã trường tồn và chắc đặc như chúng ta vẫn nghĩ. Tánh không là bản chất, là thực tại của vạn pháp. Và đó không phải là đức tin, mà đó chính là thực tại mà Phật đã chứng ngộ và truyền giao cho chúng ta.

Khi chúng ta hiểu lý nhân duyên, tánh Không thì chúng ta mới hiểu được trọn vẹn con đường giáo lý Phật thừa, và mới hiểu được con đường của Kim cương thừa. Như vậy, trước khi là hành giả của Kim cương thừa, chúng ta cần phải là hành giả đại thừa. Trước khi là hành giả Đại thừa, chúng ta phải là hành giả Tiểu thừa. Nên có thể nói 3 thừa là một, là tuần tự từng bước một. Hành giả KCT thì phải phát khởi hạnh xả ly, diệt được tâm tham luyến và bám chấp vào luân hồi theo con đường Tiểu thừa. Hành giả KCT phải trưởng dưỡng bồ đề tâm theo con đường của Đại thừa. Hành giả KCT phải thâm nhập giáo lý tánh Không. Khi bồ đề tâm kết hợp với tánh không thì đó mới là Bồ đề tâm tuyệt đối. Chỉ theo con đường đó chúng ta mới có thể đạt được thành tựu. Trong mọi nghi quỹ, ở các trang đầu chúng ta đều tụng giáo lý tánh không. Trong quán tưởng bổn tôn, ở giai đoạn thiết lập, thì chúng ta quán tưởng có 1 đài sen, trên đài sen có đĩa mặt trăng, trên đĩa mặt trăng có đức Quán thế âm. Và khi quán tưởng hòa tan thì chúng ta lại quán tưởng bổn tôn tan thành ánh sáng và tan hòa vào chúng ta, sau đó chúng ta cũng tan vào tánh Không. Ngay quán tưởng đó cũng mang ý nghĩa như vậy. Vạn pháp sinh ra từ tánh không và lại quay về tánh không. Khi chúng ta quán tưởng hình ảnh của bổn tôn tức là chúng ta có thể hiểu rằng đây chính là giáo lý tánh không, sắc và không hợp nhất. Khi chúng ta quán tưởng hình ảnh của bổn tôn thì chúng ta cũng hiểu rằng hình ảnh ở đây có mà là không, như là ánh trăng ở trong nước, và bổn tôn chính là hợp nhất của từ bi và trí huệ tánh không. Khi chúng ta hiểu được tánh không rồi thì dần dần chúng ta sẽ bớt tham luyên, bám chấp và dần có được tự do. Chúng ta phải tư duy quán chiếu về giáo lý của đức Phật trao truyền “vạn pháp giả hợp vốn không có tự tánh” và “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Như vậy, giáo lý của Mật thừa được đặt trên nền tảng của giáo lý Đại thừa, Tiểu thừa. Cho nên có thể nói ba thừa là một. Và giáo lý của đức Phật trao truyền là tuần tự từng bước một, không phần nào phủ nhận phần nào. Đó chính là tinh túy của 84000 pháp môn mà đức Phật đã trao truyền cho chúng ta.

Nhóm Tâm Ấn đánh máy lại từ bài giảng. Minh Tâm trình bày

Trang web của dòng Truyền thừa Drikung Kagyu tại Việt nam

www.drikungvn.org

logo21

Thống kê website

330599
Hôm nayHôm nay120
Hôm quaHôm qua120
Tuần nàyTuần này641
Tháng nàyTháng này3050
Tất cảTất cả330599
Cao nhất 11-30-2017 : 1313
Khách 4
Người đã đăng ký 1

Facepage

Mạng xã hội