Tôn giả Tịch Thiên và Nhập Bồ Tát Hạnh

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

shantideva

TÔN GIẢ TỊCH THIÊN VÀ NHẬP BỒ TÁT HẠNH

Đức H.H Drikung  Kyabgon Chetsang Rinpoche thuyết giảng tại chùa Giác Sanh - số 103 Âu Cơ, Phường 14, Quận 11, TP.HCM, Việt Nam ngày 28/12/2018

QUY Y

Khi nói đến Quy y, chúng ta cần phải biết chúng ta quy y đến ai, chúng ta cần phải biết phẩm tính, đức hạnh của Đức Phật là như thế nào. Khi nói chúng ta quy y là chúng ta đang quy y Tam bảo, chứ không phải đang quy y với Thầy. Quy y Phật thì tiếng Sanskrit gọi là Budha, tiếng Việt gọi là Phật, và nó chỉ gợi lên hình ảnh về đức Phật Thích Ca Mâu Ni của 2500 năm trước thôi. Còn Phật trong tiếng Tây tạng thì gọi là Sangye, gồm 2 chữ là “sang” và “ye”. Budha trong tiếng Sanskrit thì nó có đến 10 nghĩa. Ngoài nghĩa là Phật, nó còn có nghĩa là đóa hoa đang nở, thức dậy, hiện tượng…Nhưng trong tiếng Tây tạng thì Sangye gồm 2 chữ. “Sang” có nghĩa là tịnh hóa, tẩy trừ, thanh tịnh. Giống như đám mây che kín bầu trời khiến chúng ta không thể thấy được bầu trời trong xanh, nhưng một khi mây tan đi thì chúng ta có thể thấy được trăng sao rất rõ ràng. Còn “ye” có nghĩa là hiển lộ. Vậy Sangye có nghĩa là sau khi tịnh trừ hết được tham sân si mạn đó thì chân tánh sẽ tự hiển lộ.

Khi chúng ta quy y Phật là chúng ta đang quy y phẩm hạnh của Ngài. Đức Phật sinh ra là một người bình thường, nhưng sau khi Ngài đã tịnh trừ tất cả các nghiệp chướng của Ngài cho đến khi viên mãn hoàn toàn thanh tịnh thì Ngài thể hiện thành Phật. Và đó là phẩm tính của đức Phật mà chúng ta cần quy y. Vì đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ nên ngài mới đủ năng lực giúp đỡ chúng ta thoát khỏi luân hồi. Vì như vậy nên chúng ta mới quy y, mới nương tựa vào Ngài. Còn nếu chúng ta quy y với một người chưa giác ngộ thì chắc gì họ có thể giải thoát chúng ta khỏi luân hồi. Chỉ một từ Sangye thôi là đã bao hàm cả con đường Phật giáo ở trong đó rồi. Vì sao có thể nói như vậy? Bởi vì khi nghiệp chướng đã tịnh hóa hoàn toàn thì trí huệ phát sinh, và chân tánh sẽ hiển lộ. Tất cả các hoạt động của chúng ta, từ tụng kinh, niệm Phật, nhiễu tháp, cúng đèn…cũng chỉ một mục đích là giúp ta tịnh trừ nghiệp chướng. Khi nghiệp chướng được tịnh trừ thì chân tánh sẽ hiển lộ, giống như mây đen trên bầu trời được xua đi thì ánh dương sẽ được hiển lộ rõ ràng.

Pháp có thể hiểu là vạn pháp, là tất cả những gì chúng ta thấy, tất cả những gì chúng ta chạm đến. Nói về Pháp thì Pháp có 2 lớp nghĩa là nghĩa tương đối và nghĩa tuyệt đối. Nghĩa tương đối thì giống như trong kinh Hạt gạo, Đức Phật đã giảng “có cái này nên mới có cái kia, từ cái này nên mới hình thành cái kia, cho nên vạn pháp cũng như vậy, nương nhờ cái này mà cái kia mới được thành hình, tất cả mọi thứ đều do nhân duyên tương sinh mới sinh thành nên”. Ví dụ như nơi có con sông đẹp thì người ta mới đến ở, người ta đến ở rồi mới có xây trường, rồi mới có thầy dạy….Tất cả mọi thứ trong vũ trụ này đều có sự tương sinh qua lại với nhau, nhờ nhau mà tồn tại. Vì như vậy mà nó gọi là Pháp.

Khi bắt đầu quán chiếu kỹ hơn, ví dụ như khi nhìn cái cột thì mình thấy nó là cái cột, nhưng bản chất là mình đã định danh nó là cái cột. Nhưng khi mình bắt đầu quán chiếu, tìm hiểu sâu hơn thì sẽ không thấy cái cột đâu nữa. Ví dụ như chúng ta đập ra 1 miếng nhỏ thì nó là cục xi măng, rồi chúng ta nghiền nhỏ cục xi măng đó ra nữa để tìm hiểu xem nó là cái gì, rồi càng ngày càng đi sâu vào thì chúng ta không có được câu trả lời nó là cái gì hết. Vậy vốn dĩ mọi thứ là tánh không, nhưng không có nghĩa là nó không có gì hết, mà là nó không có thực tánh của nó. Vì như vậy, trong Bát nhã tâm kinh mới nói rằng “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Hiểu theo nghĩa này thì chúng ta mới thấy toàn bộ trần cảnh này, toàn bộ luân hồi này, vốn dĩ đồng với Niết bàn không khác.

Pháp theo nghĩa tương đối là có nghĩa là giáo lý, còn theo nghĩa tuyệt đối thì nó có chính là pháp giới, hay chính là Pháp thân Phật.

Còn nói về Tăng. Tăng không phải là vị thầy tu cá nhân nào đó, mà theo giới luật thì 4 vị tỳ kheo ở cùng với nhau thì mới gọi là Tăng đoàn. Theo giới luật nghiêm khắc hơn thì một vị được gọi là Tăng thì vị đó phải đạt đến Bát địa bồ tát.

Và bây giờ những người quy y sẽ lạy 3 lạy dài, với 5 điểm chạm đất là đầu, 2 lòng bàn tay và 2 lòng bàn chân, tượng trưng cho việc tịnh hóa ngũ độc ở trong mình là tham sân si mạn đó. Sau đó, tổ sẽ cắt của mình 1 ít tóc, thể hiện sự cắt đứt gốc rễ khổ đau của luân hồi, và tấm điệp quy y mà Tổ đưa cho thể hiện sự liên kết của mình với Phật pháp.

Bồ đề Tâm là thứ đem lại an lạc và hạnh phúc cho tất cả chúng ta và những người xung quanh. Lợi ích của việc có Bồ đề tâm là giúp chúng ta tịnh hóa nghiệp chướng nhanh nhất, giúp chúng ta đạt được ước nguyện của mình một cách nhanh chóng nhất, giúp chúng ta đạt đến giác ngộ giải thoát một cách nhanh chóng nhất. Bồ tát giới có 2 dòng truyền. Một dòng truyền từ đức Phật Thích ca đến ngài Long thọ, và rồi truyền đến ngày hôm nay. Một dòng khác từ đức Phật Thích ca ngài Di lặc và truyền đến này nay. Bản thân Sư tổ đã nhận Bồ tát giới của cả 2 dòng truyền thừa. Hôm nay sư Tổ sẽ ban cho chúng ta Bồ tát giới theo dòng truyền của tổ Jigten Sumgon, tức là dòng truyền bắt đầu từ đức Phật Thích ca đến ngài Di lặc, rồi đến ngài Vô trước thế thân, rồi đến thầy của ngài Atisha, rồi đến ngài Atisha, ngài Atisha lại mang giới này qua Tây tạng và rồi truyền đến Tổ Jigten Sumgon. Theo dòng này thì tựu chung lại mà nói thì giáo lý của đức Phật là dựa trên nhân và quả. Dựa trên nhân nào để chúng ta có thể nhận Bồ tát giới một cách trọn vẹn? Đó là 4 nhân sau:

  • Chúng ta đã tích tập phước đức thông qua Thất chi nguyện.
  • Chúng ta đã quy y Phật háp tăng rồi.
  • Chúng ta phải có Tứ vô lượng tâm.
  • Chúng ta phải quán tưởng vị thầy truyền giới này cho mình là hiện thân của Phật Thích ca Mâu ni không khác

Để nhận được Bồ tát giới, bây giờ chúng ta sẽ thực hành Thất chi nguyện. Để thực hành Thất chi nguyện, đầu tiên chúng ta cần có đối tượng để chúng ta có thể cúng dường, tích tập công đức. Đầu tiên, chúng ta quán từ trong chân không hiện ra 1 cái ngai, trên ngai có cây quy y, quán sư tổ trong hình tướng của đức Phật Thích ca mâu ni, ở phía trên là từ đức Phật Thích Ca mâu ni xuống đến ngài Di Lặc, rồi đến ngài Vô trước….đến tổ Atisha rồi xuống đến sư tổ; xung quanh sư tổ là chư Phật và chư Bồ tát ở khắp mười phương, đồng thời, những vị thầy nào mà mình đã quy y rồi thì mình quán tưởng các vị ấy ngồi ở chỗ đó luôn thành 1 tập hội để mình quy y. Đầu tiên, mình thực hành Thất chi nguyện, các thầy sẽ đọc tụng còn mình sẽ quán tưởng gồm 7 bước:

  • Quy y: Hướng về sư tổ và tất cả chư Phật, các bậc thầy ở trên đó và mình đảnh lễ trước.
  • Cúng dường: tưởng tượng chúng ta đang cúng dường tất cả những thứ quý báu nhất trong toàn bộ vũ trụ này để dâng lên cho sư tổ, chư Phật và các bậc thầy.
  • Chúng ta sám hối tất cả các nghiệp chướng mình đã tạo tác
  • Chúng ta hoan hỉ với toàn bộ các thiện hạnh của người khác và toàn bộ vũ trụ này đã tạo tác
  • Chúng ta thỉnh nguyện chư Phật chuyển pháp luân, ban cho chúng ta giáo pháp thâm diệu.
  • Quán tưởng mình mong chư Phật trụ thế dài lâu, đừng vội nhập niết bàn
  • Sau cùng, mình hồi hướng toàn bộ công đức có được cho toàn bộ chúng sinh.

Sau khi tụng xong thì mình quán tưởng đang cầm hoa và tung lên trước. Khi đó là kết thúc lời nguyện của mình.

----

4 vô lượng tâm: nguyện tất cả chúng sinh mẹ hiền đều được nhân hạnh phúc, thoát khỏi khổ đau và nhân khổ đau, [an trú trong trạng thái] bình đẳng và xả bỏ.  

Thế nào là Tứ vô lượng tâm, hay còn gọi là tâm từ bi hỉ xả? Theo lời dạy của tổ Jigten Sumgon, tâm từ giống như là khi nhìn thấy một đứa trẻ đáng yêu tự nhiên tâm ta phát khởi một lòng yêu thương. Tâm bi cũng giống như khi ta nhìn thấy một người bị phong cùi và từ đó gợi lên thương cảm. Tâm hỷ giống như là tâm hoan hỷ như khi gặp lại người thân lâu ngày không gặp. Tâm xả là trạng thái tâm như khi ta mơ màng ngủ, khi đó nếu ta nghĩ đến người ta giận thì không còn quá giận, nghĩ đến người thương cũng không quá thương. Đó là tâm buông xả. Từ từ phát triển bốn tâm này đó chính là Tứ vô lượng tâm. Tụng 3 lần Tứ vô lượng tâm

---

Nhân cuối cùng  đó là hãy quán sư tổ [trong hình tướng] Phật  Thích Ca. Như thế hãy chắp tay khấn nguyện rằng “Hỡi vị thầy tôn quý con tên là… nguyện nương tựa nơi chư phật chư bồ tát. Chư vị đã nhiều đời tích tập thiện hạnh như thế nào con sẽ làm theo thế ấy”. Đó là ý nghĩa của phần khấn tụng.

---

[…]

 Bồ Đề Tâm Giới có nhiều nghi quỹ khác nhau của tổ Jigten Sumgon: bản ngắn, bản trung và bản dài. Để truyền hết nghi quỹ dài mất 2 ngày, năm sau ở Ladak tổ sẽ truyền bản dài, còn bản Tổ vừa truyền là bản trung.

---

Trong quyển sách của Đại sư về Thi Kệ Bồ Đề Tâm có viết “Bồ đề tâm bị thoái chuyển chớ vội lo sầu vì ta vẫn còn cách khôi phục bồ tát giới”. Tổ có nói rằng biệt giải thoát giới cũng giống như thủy tinh vậy, một khi đã rớt là bể không phục hồi. Tuy thế Bồ đề tâm giới lại tựa như một vật bằng kim loại, hoàn toàn có thể phục hồi có thể hàn gắn.

Xuất phát từ một đệ tử hỏi tổ Atisha rằng: “Như thế nào là hư bồ đề tâm giới, phạm bồ tát giới, gãy đổ bồ tát giới?” Tổ Atisha trả lời rằng: “Khi con khởi lên tâm muốn từ bỏ chúng sinh, từ bỏ ai đó, buông bỏ ai đó thì như thế đã là gãy bỏ bồ tát giới.” Như thế nào là từ bỏ chúng sinh, Tổ nói rằng đó là khi trong lòng mình thề rằng từ nay không bao giờ giúp đỡ, không bao giờ muốn gặp mặt người này nữa. Người đệ từ bèn hỏi, “Thưa thầy tôn quý, làm sao để không làm gãy đổ bồ đề tâm?” Khi xưa người ta một ngày có 6 thời công phu. Một ngày có 24 tiếng như thế 1 thời công phu là 4 tiếng. Như vậy để không bị bể mẻ Bồ Đề Tâm thì tổ Atisha nói rằng, nếu con không hề muốn nghĩ đến người đó trong 5 thời, trong 5 thời con có thể ghét người đó nhưng ít nhất trong 1 thời còn lại con hãy nhớ nghĩ về người đó.

Tổ Jigten Sumgon đã từng nói Bồ Đề Tâm Giới có 3 cấp: thượng căn, hạ căn, trung căn. Khi nói về thượng căn là nói đến hàng chư Phật như ngài Bất động phật, A Súc Bệ Phật, mỗi thời mỗi khắc đều không bao giờ rời bỏ Bồ đề tâm.

Hàng trung căn là như Tổ Atisha vừa nói trong 1 ngày, trong 6 thời thực hành nếu có ít nhất một thời nghĩ về chúng sinh thì đó là hàng trung căn.

Hạ căn hay hạ sĩ: hạng này như người Việt ta hay nói là có còn hơn không. Nghĩa là đã có nhận giới rồi nhưng giới đó như một hạt giống được để đó, như thể đang gieo một chủng tử có sẵn. Tổ kể lại một câu chuyện rằng, trong một đời quá khứ của Phật Thích Ca, do có ràng buộc với Ma vương là Ngài bị giam cầm. Lúc đó [ma vương nói] hãy khởi tâm bồ đề đi rồi được buông tha. Khi đó Ngài đã phát tâm bồ đề, tuy rằng lúc đó chỉ mong được lợi ích trước mắt [là được giải thoát] nhưng chính nhờ khởi tâm đó mà nhờ nhân đó trong tương lai Ngài đã thành Phật. Như vậy ít nhiều trong đời này ta đã nhận Bồ tát giới. Nếu năng gieo nghiệp tốt tích phước liên tục thì nhân ấy sẽ nảy nở nhanh chóng, nếu không thì sẽ trổ quả trong những đời sau. Đó là khi ta nói có còn hơn không là vì vậy.

Phương tiện hàn giới đã lỡ bị mẻ rồi, khi ta ý thức được rằng [Bồ đề tâm đã bị thoái chuyển] thì hãy ra trước tượng Phật , chắp tay lại và tụng bài nguyện của Tổ Atisha [Sangyay cho dang tsog kyi chog nam la…] Nếu ta trì nguyện quy y Phật Pháp Tăng với tất cả lòng thành tâm như vậy thì sẽ được hàn giới.

Để gìn giữ và giúp Bồ đề tâm tăng trưởng thì có 4 hạnh trắng và 4 hạnh đen, hay còn nói là 4 thiện hạnh và 4 ác hạnh.

Hạnh thứ nhất là: khi cúng dường đến đạo sư và tăng đoàn mà nói lời nhiếc móc nặng nề là ác hạnh. Ngược lại, khi dâng cúng dường với ái ngữ và kính trọng thì là thiện hạnh.

Hạnh thứ 2: ví dụ khi có một thí chủ rộng lượng cúng dường cho tăng đoàn mà nếu mình đứng bên cạnh dè bỉu hoặc nói rằng “sao nhiều quá, phí quá” khiến người ta sinh tâm hối hận, sinh tâm thối chuyển thì đó là hạnh xấu. Ngược lại khi thấy người ta cúng dườngmà  mình hoan hỷ, nói lời tán thán công đức khiến họ thêm hoan hỷ, làm lòng thiện hạnh của họ lên thì đó là thiện hạnh.

Hạnh thứ ba: Bồ Tát thì không tranh cãi, không đối phó. Hôm nay ở đây ai nhận giới thì người đó chính là Bồ tát. Kể cả một đứa trẻ con đến dự hôm nay cũng là Bồ tát. Và đã là Bồ Tát thì không tranh cãi, không não hại, trách móc, nói xấu nhau. Nếu làm là bất thiện nghiệp. Ngược lại nếu mình tôn trọng, quý mến giúp đỡ các Bồ tát khác là hạnh trắng.

Hạnh thứ 4: không được nói dối. Kinh doanh làm ăn buôn bán lừa dối là không được. Phải đối xử với tất cả mọi người bằng tình thân chân thành đó là hạnh trắng. Hạnh đen là lừa dối người khác.

Bốn điều trên là bốn điều trọng yếu nhất để giữ gìn Bồ đề tâm giới.

Khởi bồ đề tâm khó nhưng không khó. Mỗi buổi sáng khi chúng ta thức dậy hãy cố gắng khởi lên trong đầu về Bồ đề tâm. Khởi lên một tâm nguyện rằng ngày hôm nay ta sẽ làm điều gì đó lợi lạc cho chúng sinh. Ví dụ ta thức dậy và cho chó mèo ăn, hay giúp đỡ một người nào đó. Chúng ta đừng nghĩ rằng nó là nhiệm vụ. Cũng cùng chuyện đó nhưng nếu ta thực hiện hành động ấy với một cái tâm đầy yêu thương thì sẽ khác. Chúng ta giúp thuốc men cho một người khác là một chuyện nhưng tâm ta như thế nào là chuyện khác. Năng lực của tâm rất mạnh mẽ nó làm thay đổi mọi thứ.

Nhóm Tâm Ấn đánh máy lại từ bài giảng. Minh Tâm trình bày

Trang web của dòng Truyền thừa Drikung Kagyu tại Việt nam

www.drikungvn.org

logo21

Thống kê website

339848
Hôm nayHôm nay20
Hôm quaHôm qua152
Tuần nàyTuần này128
Tháng nàyTháng này3694
Tất cảTất cả339848
Cao nhất 11-30-2017 : 1313
Khách 5
Người đã đăng ký 1

Facepage

Mạng xã hội