Drubpon Samten Rinpoche giảng Pháp tại chùa Giác sanh ngày 27/12/2018

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

Drupon Samten Rinpoche

Drubpon Samten Rinpoche thuyết giảng tại chùa Giác Sanh - số 103 Âu Cơ, Phường 14, Quận 11, TP.HCM, Việt Nam ngày 27/12/2018

Thầy không biết bắt đầu từ đâu nhưng ngồi đây trong nơi chốn thanh tịnh như thế này thân tâm thầy thấy rất là hoan hỷ

Hôm nay chúng ta rất may mắn có mặt ở đây để lắng nghe giáo pháp từ vị đạo sư cao quý, Đức Chetsang Rinpoche. Ở đây còn có tăng đoàn theo truyền thừa của KCT và Đại thừa, thật sự là một cơ hội hy hữu. Tiếp theo quý đạo hữu hãy buông thả thân này, tâm này và khẩu này vì cơ hội mà ta tụ hội ở đây, trong cõi luân hồi này là vô cùng hiếm quý. Dĩ nhiên trong chúng ta đầu óc ai cũng tràn ngập những suy nghĩ thế gian, nhưng ngay tại đây hãy buông thả suy nghĩ, buông xả các phiền não để mình chính là bản thân mình là một thực thể tràn đầy tình yêu thương vĩ đại.

Ngày hôm nay chúng ta đến đây nghe pháp, là để nhận chân ra bản chất thực thụ của chúng ta là gì. Bản chất đó là Phật tánh. Nhân của ta và Phật là đồng nhau không khác.  Mặc dù Phật tánh đó đồng với Phật nhưng ta lại phiền não, đó là bởi vì ta bị che chướng bởi tham sân si. Nhưng khi 3 che chướng được loại trừ thì ta sẽ hiển lộ Phật tánh của mình, đó chính là giáo huấn cốt tuỷ của đạo sư của chúng ta là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Cuộc sống ai cũng trải qua hai trạng thái tâm thức. Một là lo lắng phiền não. Hai là an lạc thanh tịnh nhẹ nhàng. Một khi ở vào trạng thái an lạc thanh tịnh nhẹ nhàng, cơ thể của mình sẽ nhẹ nhàng, nhịp đập của tim của thong thả, tâm tư của ta an lạc. Ai cũng muốn ở vào trạng thái an lạc nhưng vì sao ta lại phiền não? Đó chính là do các phiền não đời trước đến từ tập khí chướng, đó là cái lôi kéo khiến ta phải chịu các chướng cảnh như bây giờ.

Chúng ta đến từ những nơi khác nhau, mặc quần áo khác nhau, nhưng thực chất là chúng ta đồng với nhau quy về nhất thể. Làm thế nào chúng ta lại quy về nhất thế? Đó là thông qua con đường thiền định. Chỉ có thông qua thiền định ta mới có thể tiếp cận chúng sinh, thấy được chúng sinh nhất thể, và yêu thương tất cả chúng sinh. Cũng như vậy, Đức Phật Thích Ca có nói rằng Ngài có tám người mẹ, người sinh ra tôi, người chăm sóc tôi, người nuôi nấng tôi, người giáo dục tôi, tuy là tám nhưng lại quy về vẫn là một mối. Đó là cách nhìn của Phật pháp. Cái quan tọng là làm sao chúng ta có thể vượt qua các che chướng trong nhiều đời kiếp? Đó là con đường của lòng sùng mộ. Lòng sùng mộ sẽ giúp chúng ta đi theo con đường của Đức Phật, thoát khỏi che chướng và đạt đến giác ngộ. Đi theo bước chân của đức Phật, đó là quy y. Chúng ta ngồi chắp tay lại, hướng về đức Phật, đó là mình nhắc nhở mình rằng do nhân duyên gì mình có thể ngồi tại đây. Đó là do những nghiệp quả đã tạo các đời trước.

Nghiệp quả giống như dòng nước chảy, nước chỉ có thể chảy xuôi chiều, luật nhân quả chỉ đi một chiều như vậy mà thôi, dù quý vị là người nào, là tu sĩ, là cư sĩ, thì ai cũng phải chịu sự chi phối của luật nhân quả, giống như dòng nước chỉ có thể chảy xuôi, đó là quy luật của nhân quả.

Và vòng nhân quả sẽ dẫn tới sinh tử luân hồi, cũng chính là vô thường. Tất cả chúng sinh, là người, là động vật trên cạn hay dưới nước, đều bị đắm chìm vào vô thường. Do sợ hãi luân hồi mà ta khởi tâm yêu thương, khởi tâm từ bi đến với tất cả chúng sinh. Và nói về thực hành phật pháp, dù thực hành theo pháp môn nào, tụng kinh điển đại thừa tất cả phải bước qua 3 bước

Bươc 1: khởi đầu

Bước 2: thực hành chính yếu

Bước 3: hồi hướng

Đây là ba bước vô cùng quan trọng trong sự thực hành của chúng ta.

Nếu nói về phần đầu tụng niệm dù theo truyền thống nào chăng nữa, cũng cần sự tổng hợp của ba cửa. Thân trang nghiêm, khẩu trì tụng, ý thì quán tưởng đến chư Phật.

Trong phần tụng quy y hoặc trì tụng giới nguyện, quan trọng là tâm của mình phải chuyên chú, định tâm vào giới mình hành trì, lời mình nguyện. Không định tâm, tâm xao lãng là một tội lỗi huỷ hoại công phu của mình, do vọng tưởng của mình nó chuyển. Do đó khi thực hành nên ngưng thần và tập trung hoàn toàn vào lời giới mình đang trì tụng.

Khi trì niệm quy y, khi quy y là ta quy y Phật. Ở đây Phật là tất cả chư Phật. Phật còn có nghĩa là tất cả các vị giác ngộ là chư Phật và chư Bồ tát. Chúng ta có thể thấy Phật trong các truyền thống khác nhau như Nguyên thuỷ, Đại thừa, Kim cang thừa, có sự khác biệt. Tuy nhiên sự khác biệt ở đây chỉ là khác biệt về hình tướng. Thầy nói đó là do văn hoá.  Ví dụ đến Ấn độ thì theo văn hoá của Ấn độ, đến các nước khác thì sẽ theo văn hoá các nước khác. Nhưng sự khác biệt đó chỉ là trên ý nghĩa tương đối mà thôi, còn trên thực nghĩa tuyệt đối thì chỉ duy nhất có một Phật mà thôi. Tất cả Phật chỉ là một Phật, không khác.  

Tiếp theo, ta quán đức Phật trước mặt mình khi bắt đầu trì tụng. Khi quán đức Phật, nếu có nghi quỹ thì ta nương theo nghi quỹ mà quán hình ảnh của Ngài. Với hành giả sơ cơ hoặc hành giả chưa biết gì hết, ta có thể nhìn vào tượng Phật. Còn với người chưa biết gì hết, ta nên hỏi vị thầy xem Phật như thế nào, hình tướng Phật đó ra sao để nương vào đó mà quán.

Thầy nhắc lại tâm của mình rất mạnh mẽ. Nhưng muốn trổ cái mạnh mẽ đó ra thì tâm cần phải được huấn luyện.

Khi nói quán tưởng đức Phật, lúc đầu mọi người sẽ thấy khó. Thứ nhất là mình quán không rõ, thứ hai là do tâm tư của mình có nhiều niệm tưởng nên hình ảnh Phật mình quán tưởng không rõ ràng. Như vậy trước tiên mình cần có hình Phật ở trước mặt để hỗ trợ cho tu tập. Thầy nói rằng vào thế kỷ 21 thì kiếm một bức hình Phật đâu quá khó. Nhưng quan trọng là phải kiếm một bức hình tinh xảo thật là đẹp. Bởi vì sao? Bởi vì khi mình đặt một bức hình Phật thật đẹp trước mặt và mình nhìn bức hình đó và mình quán liên tục thì từ từ hình ảnh Phật đó sẽ hiển rõ ràng ra. Thầy nói rằng người tay tạc tượng bằng tay, vẽ tượng bằng tay còn mình dùng tâm để vẽ ra hình tượng đó. Và khi hình tượng đó hiện ra rõ ràng thì một điều rất thú vị sẽ xảy ra, là ta sẽ không còn lo lắng, ta sẽ không xao lãng và không còn phiền não. Và nhỡ khi giận dữ khởi lên trong tâm mình thì dường như có ai đó ở bên trong nhắc nhở mình nhìn ngắm bên trong trong tâm và giúp cho tâm mình an bình lại. Khoa học nói trong máu có oxy, và máu mang oxy lên não để nuôi dưỡng não bộ của mình.  Và mật điển cũng nói y như vậy không khác. Máu và oxy là khí. Có khí tích cực và khí tiêu cực. Nếu khí tiêu cực lên đầu thì các vọng niệm phàm niệm rất là sai. Còn nếu khi tích cực lên thì tất cả mọi việc đều tuyệt vời. Như vậy khi mình đã tạo dựng được hình ảnh của Phật rõ ràng trong tâm thì đó là cách khiến cho khí của mình trở nên tích cực.

Tiếp theo, khi hình tượng Phật đã rõ ràng trong mình rồi thì mình bắt đầu thiền định. Trong đó có hai điểm quan trọng là chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm là gì? Là đem tâm tản mác về với đề mục mình đang thiền định, ở đây là hình tượng của Đức Phật hoặc một đề mục nào đó. Đưa mình từ bên ngoài trở về với mục đích hay đề mục chính mà mình đang thiền định. Thứ hai là tỉnh giác. Là nhắc nhở mình liên tục ở trong trạng thái đó không bị lạc ra ngoài. Một cái là đem quay về, một cái là liên tục ở trong trạng thái đó.

Thầy nói rằng do cuộc sống chúng ta thích tiệc tùng vui chơi hơn là thiền định. Thầy nói thích tiệc tùng cũng không có gì là sai, nhưng ta chỉ cần nhớ rằng thời gian là có hạn, vạn vật vốn dĩ là vô thường. Nếu phí phạm thời gian vào vui chơi tiệc tùng, không tập trung thời gian vào những thứ có ý nghĩa thật sự thì chuyện gì sẽ xảy ra? Chúng ta nên nhớ rằng thân này là vô thường, thân này ta mượn từ nghiệp báo, hết duyên thì ta phải trả lại. Giống một người đi thuê một căn nhà, đến khi người ta gọi mình trả nhà thì mình sẽ thế nào. Lúc đó mình sẽ vui vẻ trả hay đầy phiền não, hay như thế nào. Cũng như vậy một hành giả thực hành tốt, ví dụ như các vị đại thành tựu giả ngày xưa thì các vị nói rằng tôi chết trong hỷ lạc, tôi chết trong an bình và tôi chết trong hạnh phúc. Đạt được như vậy là mình đã chuẩn bị cho điều đó sẵn rồi. Và thầy nói rằng để có được thân người này, có được cơ hội biết được Phật pháp thì đây là cơ hội cực kì hiếm quý, cơ hội lớn lao vô cùng. Do vậy quý đừng hoài phí nó cho những việc vô bổ mà nên dùng nó vào việc có ích.

Tất cả chúng ta trong tâm ai cũng đa phần vọng ngoại, hướng ra bên ngoài. Ta mong có ai đó đến dùng thần thông giúp ta vượt qua chướng ngại. Nói đúng ra thì thần thông là có. Nhưng sự thật lúc này ta cần là phải tập trung vào Phật Pháp Tăng và sự thực hành của bản thân mình.

Tiếp theo,  là chúng ta khởi lên tâm yêu thương. Mỗi sáng khi thức dậy, ta nói rằng một ngày mới lại đến, ta lại có cơ hội giúp đỡ người khác. Cũng chính là bài nguyện phát khởi bồ đề tâm mà chúng ta tụng niệm mỗi ngày “Tất cả chúng sinh mẹ hiền vô lượng như hư không...” Tất cả những khởi phát này, từ từ khi mình thực hành nó sẽ chuyển hoá mình.  Và sự chuyển hoá này là từ trong chuyển hoá ra bên ngoài, chứ không phải ngoại cảnh tác động lên mình mà mình dần chuyển vào bên trong. Thầy nói rằng với đồ đạc lúc nào chúng ta cũng giữ kè kè bên mình. Những vật ngoài thân mình giữ rất kỹ, trong khi có một thứ vô cùng quan trọng là tâm thì mình lại không giữ kỹ chút xíu nào. Tâm cũng chính là não của mình, nó thực sự trọng yếu và quan trọng, nó chứa đầy đủ trong đó nhưng mình không giữ, mình để ngoại cảnh như tiền bạc gia quyến xâm lấn và mình không bảo vệ nó bao giờ. Vì vậy phải học cách bảo vệ nó, phải ngăn lối để những thứ không cần thiết đi vào bên trong tâm mình nữa. Khi tâm sân hận khởi lên, thì lúc đó có thể mình nghĩ mình sẽ đi du lịch, nghỉ dưỡng, làm đủ thứ chuyện, nó bớt một chút rồi nó cũng quay lại thôi. Chi bằng 10 phút thôi mình trực tiếp đối diện với tâm mình, mình để tâm mình tịnh lắng thì lúc đó mình sẽ giải quyết vấn đề nhiều hơn.

Giống như khi đi đường mình đụng chuyện với một người, mình phản ứng và thắng được người ta. Sau đó về nhà mình hạnh phúc quá mình gọi điện và khoe bạn bè rằng tôi đã thắng người đó. Nhưng hạnh phúc chỉ được vài ba phút mình thấy vui vẻ, đến ngày mai mình lại thấy nặng nề trong lòng, tự hỏi rằng điều mình làm có đúng đắn hay không. Tựu chung lại dù theo truyền thống nào, tất cả các bậc thầy đều nói chung một thông điệp: luôn làm các điều lành, tránh xa các điều ác, đó là cánh cửa giúp ta bước vào con đường giải thoát giác ngộ của mình.

Không có lòng yêu thương và tâm bồ đề, ta không thể giác ngộ. Chúng ta tu học để giác ngộ. Giác ngộ để làm gì? Để độ sanh. Muốn vậy ta phải hiểu được những phiền não đau khổ của chúng sinh. Liệu ta có biết các đau khổ của các sáu cõi giới hay chưa. Hay nhẫn đến trong loài người ta đã hiểu được nỗi đau khổ của những người ở vùng chiến tranh, những người thiếu đồ ăn thức uống, những người đang bị bệnh tật, v.v. Ta đã quán chiếu rõ ràng hay chưa? Làm sao có thể giúp những chúng sinh đó xua tan đi đau khổ của họ? Ta cần đi sâu vào bên trong của ta, đến lúc ta chạm đến Phật tánh của mình, và từ Phật tánh đó mà hiển lộ hình tướng Phật a di dà, Quán thế âm mà thực hành pháp độ sanh.

Trong nghi quỹ chúng ta tụng câu chú tánh Không “Om...” nghĩa là toàn bộ trần cảnh và nội tâm đều hoá vào không? Hoá vào không nghĩa là như thế nào? Nghĩa là buông bỏ phiền não, buông bỏ tham sân si. Nhiều người nghĩ tới tánh không, nghĩ tới buông bỏ thì họ nghĩ rằng buông bỏ nghĩa là buông bỏ gia đình các mối quan hệ. Không phải là như thế, mà đó là buông bỏ bản ngã, buông bỏ tham sân si. Pháp ở đây là kết nối. Khi buông bỏ tham sân si thì mình và gia quyến, mình và thân thuộc, mình và chúng sinh càng kết nối với nhau nhiều hơn, chứ không phải là xa cách nhau hơn, đoạn lìa họ nhiều hơn. Lại nói về tất cả chúng sinh, trần cảnh và ngoại cảnh, tất cả chúng sinh đó mình cứ nghĩ tới những người mình thấy thôi là chưa đủ mà còn có chúng sinh hữu hình và chúng sinh vô hình. Chúng sinh hữu hình là những gì mà ta có thể thấy, còn chúng sinh vô hình là cõi giới mà mình không thấy như ma quỷ vv...Chúng ta không nhìn thấy không có nghĩa là họ không tồn tại mà các bậc thầy, bậc thiền sư cao cấp đều tận mắt thấy nhìn thấy các chúng sinh vô hình, giao tiếp với họ và thấy họ khổ não đau khổ như mình không khác.  

Lợi ích của xả bỏ là để bản thân thấy nhẹ nhàng hơn, an lạc hơn. Quý vị phải biết không ai có thể giúp ta buông bỏ nếu tự ta không chịu buông bỏ. Nếu người khác muốn giúp mà mình không chịu buông bỏ thì không ai có thể giúp được mình. Do đó buông bỏ là buông bỏ tự thân ta. Do đó câu thần chú tánh không nghĩa là sự buông bỏ nơi thân khẩu và ý của mình.

Khi trả về tánh Không thì tất cả tan biến hết. Thân ta tan biến thì còn lại gì? Đó chính là tâm. Nguyên thuỷ của tâm là gì, chính là Phật tánh.

Từ trong Không đó, khi an trụ trong Phật tánh đó, ta mới thấy ta và người là một không khác. Từ trong không vô biên đó đoá sen xuất hiện. Vì sao sen xuất hiện? Vì hạnh nguyện độ sinh của ta. Từ trên sen hiện tướng vị tôn. Vị tôn đó là ai? Là bản tâm ta. Đôi khi ta lo lắng là ta có phải chư tôn hay không? Cho nên ta cần trợ giúp từ vị tôn bên ngoài. Tuy nhiên đừng quên rằng bản thân ta phải tự hiện thành chư tôn. Và thầy nói rằng tuỳ duyên nghiệp và kết nối của mỗi người mà có người thích hình tượng tôn đại thừa, có người thích hình tượng tôn kim cang thừa. Nhưng hình tướng chỉ là hình tướng mà thôi, vì nó chỉ thể hiện duyên nghiệp, còn về bản chất thì đúng từ chúng tử của vị đó hiện ra thì vẫn thể hiện công năng của chư vị.

Bây giờ tiếp theo khi ta quán biến hiện thành chư tôn. Pháp quán tưởng là một pháp cực kì quan trọng trong tu tập. Nếu quán tưởng đủ tốt, mình sẽ thấy bớt phiền não và tích luỹ được nhiều công đức. Đầu tiên quý vị quán hoa sen, sau đó đến đĩa mặt trời mặt trăng và cuối cùng là hoá hiện chư tôn. Tại sao lại là hoa sen đĩa mặt trời đĩa mặt trăng liên tục biến hiện từ không ra như vậy? Nó tượng trưng cho chư Phật luôn liên tục thị hiện để hoá độ chúng sinh không ngừng nghỉ, đó là nghĩa thứ nhất. Nghĩa thứ hai là vì hoa sen thì mọc trong bùn nhưng không lấm trong bùn, thể hiện bản nguyên trí của chư Phật vốn dĩ không hề bị nhiễm ô bởi các vọng niệm phàm tâm trong cuộc sống luân hồi. Và vì như vậy nên vòng nhân duyên là thập nhị nhân duyên, nếu ta không chuyển được cái vòng đó, thì luân hồi sẽ vẫn tiếp tục. Nhưng nếu ta có thể thực hành quán tưởng tốt, mình trụ trong đó thì lập tức mình có thể dừng vòng nhân duyên đó và thoát ra khỏi luân hồi. Chư Phật trong hoa sen liên tục biến hiện ra để hoá độ tất cả chúng ta. Tất cả thực hành của ta đều được chư Phật liên tục quan sát ta. Vì vậy trong trạng thái Không định như vậy, hễ ta chuyển nghĩ về vị thầy thì tức thời vị thầy sẽ hiện ra trước ta. Đó là vòng xoay của lẽ nhân duyên biến hiện.

Nhóm Tâm Ấn đánh máy lại từ bài giảng. Minh Tâm trình bày

Trang web của dòng Truyền thừa Drikung Kagyu tại Việt nam

www.drikungvn.org

logo21

Thống kê website

322317
Hôm nayHôm nay15
Hôm quaHôm qua147
Tuần nàyTuần này242
Tháng nàyTháng này3379
Tất cảTất cả322317
Cao nhất 11-30-2017 : 1313
Khách 3
Người đã đăng ký 1

Facepage

Mạng xã hội