Thiền và các điểm tinh yếu của kinh Lăng Già trong Phật giáo Tây Tạng

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

ducphat tranhve 1

Đức H.H Drikung  Kyabgon Chetsang Rinpoche thuyết giảng tại Pháp Viện Minh Đăng Quang - Xa lộ Hà Nội, Phường An Phú, Quận 2, TP.HCM, Việt Nam ngày 29/12/2018

Sáng nay chủ đề của chúng ta là về tinh tuý của thiền tông theo quan kiến của Kinh Lăng Già. Như vậy Tổ sẽ giảng giải chi tiết về những điểm tinh yếu đó.

Nói về thiền tông thì hôm nay tổ sẽ giảng một bản văn về thiền tông từ đời trước do tổ sưu tầm từ những văn bản cổ ở Tây Tạng và Đôn Hoàng. Ở Đôn Hoàng có hơn 1000 hang động và cho đến nay đã có hơn 900 hang đã được khám phá. Có những hang động từ 2000 năm trước cất giấu bí điển, 15 ngôn ngữ khác nhau. Có nhiều văn bản cổ của Tây Tạng như Tam tạng Kinh điển chép tay. Đó là một kho tàng quý hiếm.

Bản văn này gốc rễ là từ tiếng Hoa sau được chuyển ngữ sang Tiếng Tạng với tiêu đề “Những lời biên chép của bậc thầy và đệ tử thuộc trường phái Lăng Già”. Trong đó phần đầu là tinh tuý của tổ thứ 6 thuộc trường phái Lăng Già.

Vị Tổ thứ 5 của Thiền tông là tổ Hoàng Nhẫn đã biên soạn bộ kinh này vào năm […]. Tại sao lại gọi là Kinh Lăng Già? Đó là do bộ Kinh này được [biên soạn] nơi thành Lăng Già tại vùng Srilanka. Ở đó có một ngọi núi cao gọi là Bất Hoại Phật trên đó có dấu chân Ngài để lại. Núi đó nằm gần Ấn Độ cách 5-6 km, là nơi Đức Phật giảng giáo lý cao cấp. Tổ đã đến để thăm viếng dấu chân do Đức Phật để lại.

Bản kinh Lăng Già này đã đươc dịch từ tiếng Hán sang Tiếng Tạng. Bộ kinh gồm 3 bản dịch, bản đầu đã bị thất lạc hiện chỉ còn lại hai bản, trong đó bản tiếng Tạng là được dịch bởi một vị đại học giả vào thế kỷ thứ 8. Người Tây Tạng chỉ dịch được một phần và hai phần còn lại vẫn chưa được dịch. Nhưng may mắn thay trong Tam Tạng Kinh ĐIển vẫn còn giữ lại 2 Tạng. Đích thân thầy chuyển từ tiếng Hoa sang tiếng Tạng, tương lai sẽ dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Anh và biết đâu trong tương lai sẽ được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Tại sao bản kinh Lăng Gìa này …thiền tông vì đây là bản cổ nhất, là tiền thân của thiền. Vì sao lại nói như vậy? Thiền tông được du nhập vào Tây Tạng là do bắt nguồn từ đức vua Tritsong Deutsen, mẹ của Ngài là một hành giả Thiền tông. Khi đó Tây Tạng nối liền với Đôn Hoàng, Trung Hoa qua con đường tơ lụa. Vì vậy Ngài đã thỉnh mời các vị đại sư thiền tông từ Đôn Hoàng, Trung Hoa đến Tây Tạng để truyền pháp thiền cho mẹ mình. Chúng ta chỉ biết theo sử sách rằng Thiền tông đến với Tây Tạng bắt nguồn từ học viện Nalanda nhưng sử sách không đề cập chính xác và còn thiếu sót nhiều những phần đó.

Lúc đó vua Trisong Deutsen đang xây dựng tu viện Samye. Mẹ ngài do thực hành thiền tông nên có rất nhiều người thực hành theo mẹ ngài. Thiền trọng bên trong, chú tâm ngồi thiền không quan tâm nhiều đến bên ngoài, xem rằng mọi việc bên ngoài là không quan trọng. Vì thế không ai muốn xây dựng tu viện Samnye. Vì thế Ngài phải cho dừng lại để tập trung xây dựng cho xong tu viện.

Lục tổ Huệ Năng đắc ngộ dựa trên Kinh Kim Cang và như thế thiền tông truyền từ Lục Tổ Huệ Năng là theo dòng truyền kinh Kim Cang, còn bộ Kinh Lăng Già đã thất lạc. Tổ nói rằng để tìm được bộ kinh này là rất khó khăn, Tổ đã phải tìm khắp tại Thư viện quốc gia Anh quốc và tập hợp lại các bản văn nhỏ lẻ. Thầy cũng đã phải tìm thêm ở các vùng xa xôi của Tây Tạng, cho đánh máy và ngày nay chúng ta có thể tìm thấy ấn bản này trên Amazon nói về thiền tông Tây Tạng.

Khi nói về thiền, vị Tổ đầu tiên là Bồ Đề Đạt Ma nhưng khởi nguồn của thiền chính là từ sư phụ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Lần này Tổ sẽ giảng một vài tinh yếu [về thiền] của tổ ấy. Vị Tổ đầu là Buddhamanara và Ngài sống vào khoảng thế kỷ thứ 4. Xuất thân của Sơ tổ là một gia đình Bà La Môn. Từ bé Ngài được học nhiều môn phép thuật. Lớn lên học về A Tì Đàm và cuối cùng Ngài thọ giới tì kheo. Đầu tiên Ngài thọ giới tì kheo theravada. Ngài tu học về Kinh đại thừa bát nhã Ba La Mật trường bản. Sau đó học tiếng Hoa để dịch kinh từ Tạng sang tiếng Hoa. Năm 425 vua Trung Hoa mời ngài đến Quảng Châu bằng thuyền. Khi đến Trung Quốc thì Ngài ở tại 4-5 ngôi chùa để thực hiện công việc dịch kinh sách và 75 năm sau qua đời.

Nghĩ về thiền là chúng ta nghĩ ngay đến tổ Bồ Đề Đạt Ma nhưng Sơ Tổ […] giáo lý tiền thân của thiền mà hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu và thực hành. Giáo lý này chính là giáo lý tối thượng thừa, giáo lý tối cao. Đó cũng là tinh tuý của Mahamudra, Dzogchen. Đấy không phải là giáo lý phổ truyền. Bởi vì ngày xưa người ta không tu học Phật pháp đúng cách. Họ vẫn thờ bản địa, các vị thánh, hay thờ cha mẹ. Cũng dùng tà thuật đen yêu thuật không phải Phật pháp chính thống. Vì vậy rất khó để hiểu được Pháp. Vì vậy đầu tiên yêu cầu đệ tử phải là một đệ tử đúng đắn, cho nên đây không phải giáo lý phổ truyền.

Khi thâm nhập giáo lý thậm thâm cần có 4 yếu tố:

  • Điều đầu tiên là Đảo ngược phàm tâm: chúng ta thường dễ bị ảnh hưởng, xao nhãng, phiền lòng vì hoàn cảnh xung quanh. Chúng ta cần phải đảo ngược tâm phàm ấy lại;
  • Thứ hai là Tâm ngưỡng cầu hướng về Phật pháp: nhận chân ra rằng luân hồi đầy đau khổ và phải hướng đến niết bàn;
  • Thứ ba là tâm hướng lợi ích của tất cả chúng sinh, hay còn gọi là Bồ Đề Tâm. Thực hành Bồ Đề Tâm có thể tịnh hoá tất cả nghiệp chướng đó là phương tiện thiện xảo của hàng Bồ Tát.
  • Thứ tư là trụ tâm vào tam muội, trụ tâm vào thiền. Càng trụ tâm thì tâm vào tam muội càng không bị tán loạn.

Tựu trung ở 4 điểm trên nằm ở cốt lõi “đoạn lìa tâm nhị nguyên”. Đó là mục đích của thiền. Thiền khi được dịch sang tiếng Hán là một từ có hai ký tự. Ký tự đầu tiên có nghĩa là biểu tượng và thứ hai là ‘nhất’. Như vậy ta có thể hiểu Thiền có nghĩa là nhất tâm, quy tâm về một điểm, hay nói sâu hơn là đoạn lìa tâm nhị nguyên. Thế nào là tâm nhị nguyên? Tâm nhị nguyên là cái tâm phân biệt ta-người, trên-dưới, trước-sau, trong-ngoài. Đoạn lìa tâm ấy thì chính là thiền.

Ngay cả bậc thầy của Sơ tổ Jigten Sumgon cũng thuyết “đoạn lìa tâm nhị nguyên chính là Đại Thủ Ấn”. Như thế Đại Thủ Ấn và thiền đồng nghĩa như nhau không khác.

Kệ thứ 1: Vọng tâm cũng chính là thanh tịnh qua [thực hành] đoạn lìa tâm nhị nguyên. [Sơ tổ] Jigten Sumgon đã giảng “Như thế nào là hành thiền? Hành Thiền là đoạn lìa tâm nhị nguyên. Đó cũng chính là thực hành Đại Thủ Ấn, hay Đại Viên Mãn’ Tựu trung, không dính chấp vào tâm nhị nguyên nữa thì bản chất đó chính là thực hành thiền định, thực hành thiền định giúp thanh tịnh tâm. Khi ấy tâm sẽ quen thuộc với không còn nhị nguyên.

Kệ thứ 2: Phật và chúng sinh vốn không khác? Tại sao? Khi ta chỉ sâu vào trong thì tất cả mỗi chúng sinh đều có phật tánh. Tất cả chúng sinh và Phật đều đồng nhau, từ con côn trùng nhỏ nhất đến con người ai cũng có hạt giống [của Phật Tánh]. Vì có hạt giống nên khi đủ nhân duyên mới thức tỉnh thành giác ngộ.

Kệ thứ 3: Đoạn lìa tâm nhị nguyên hay tịnh tâm thuần tịnh thì sẽ thấy vạn pháp vốn bình đẳng. Để lý giải câu kệ này Tổ viện dẫn một câu khác trong tiếng Tạng: ‘Hiểu được bản chất của luân hồi thì sẽ kiến được niết bàn’. Vì sao? Đó là bởi vì về mặt bản chất, luân hồi và niết bàn có tự tánh như nhau.

Kệ thứ 4: Trong kinh Lăng Gìa có nói “Bản chất từ vô thuỷ vạn pháp là niết bàn’. Như thế luân hồi thực tánh của nó cũng là niết bàn. Vì thế, sẽ chẳng có phật để nhập niết bàn, nên chẳng cần gì để thể nhập vào niết bàn cả.

Kệ thứ 5: trong tịnh tâm, trong tâm thanh tịnh không có nhận thức cũng không có không nhận thức. Đó là pháp của Đại Thừa. Người Việt Nam ta thường nói ‘Bối cảnh sinh tâm’. Nghĩa là nếu mắt nhìn hoa thì tâm sẽ khởi lên ý niệm rằng à đây là hoa, hoa này có màu sắc vv và những vọng niệm đấy khởi lên trong tâm ta.

Khi nhìn bối cảnh không sinh tâm, nghe âm thanh không có nắm bắt, không khởi lên [ý niệm] à đây là âm thanh này, âm thanh kia, vọng tưởng liên tục sinh khởi thì đó chính là đại ấn, là thiền tông. [Thực hành ấy] giúp tự tại. Kết lại là pháp thiền hay pháp đại thừa chính không lằn mé, bởi vì không hề có bám chấp.

Phật pháp chính là nhân duyên. Nhân khởi chính là pháp, khi nhân khởi thì phật tánh chiếu soi. Nhưng duyên lại như mây mờ phủ che mặt trời. Khi mây xua tan thì mặt trời rạng rỡ, ánh sáng chiếu soi.

Câu cuối: nhận ra chân tính chính là trụ trong định, vì phật tánh là không thể giãi bày. Phật tánh chính là vượt thoát khỏi mọi ý niệm, ngôn từ, nằm ngoài niệm tưởng. Không thể nhận thân, chỉ có thể chứng nghiệm. [Phật tánh] không thể truy tìm, không thể diễn đạt. Nếu chúng ta cố gắng truy tìm băng lời nói, bằng ngôn ngữ thì như thế chúng ta đã bước chân ngược lại luân hồi.

Giống như tấm gương sáng bị bụi tích tụ khiến nó mờ dần. Giống như trân châu rớt xuống bùn lầy trở thành vấy bẩn. Nhưng ta phải thấy được rằng trân châu dù có rớt vào bùn nhưng nó vẫn không trở thành bùn, nó vẫn là trân châu. Cũng như vậy, chúng ta do có nghiệp chướng vô minh [nên không nhận ra] chân tánh là phật. Bản thân khởi thuỷ là phật tánh. Nhận ra [chân tướng ấy chúng sinh] là Phật, không nhận ra [ta sẽ phải] trôi lăn trong luân hồi.

Phật không có độ sanh, cũng không có chúng sanh để độ. Vì sao? Vì giác ngộ quả phật chính là đạt tam thân. […] pháp thân tự nhiên hiển lộ, không khởi sanh, không độ vì [thân ấy] tự hiển lộ. Đây là nói theo tối thượng nghĩa hay mật nghĩa chứ không phải báo thân hay hoá thân để độ sanh vì đây là tối thượng thừa.

Trong pháp này tự nó bao hàm lục độ ba la mật. Không bám chấp vào trần cảnh, nội tâm, chúng sinh tất cả đều đồng cảnh như nhau đó chính là bố thí. Khi bình đẳng mọi việc, tốt-xấu, nhận vào-cho ra đó chính trì giới ba la mật. Khi đối cảnh không sinh tâm, tâm không chấp chứa vào cảnh thì khi đó tâm sẽ không sinh hận thù, ấy là nhẫn nhục. Liên tục thiền định và trụ tâm trong cảnh giới đó chính là tinh tấn. Niệm khởi niệm tan tất cả đều không tạo tác chính là thiền định ba la mật. Vạn vật hiện tướng hay không hiện tướng đều là đồng đẳng. [Thấu hiểu được điều đó] gọi là bát nhã ba la mật.

Trong một bộ kinh khác có nói “Tìm tâm không thấy được tâm. Kể cả chư phật trong 3 thời có quán chiếu về tâm cũng tìm không thấy” Vì sao? Bởi vì không thấy được tâm mới thật sự là thấu suốt.

Cảnh giới ấy là thấy mà không thấy. Mắt không thấy tai không nghe, mũi không ngửi, miệng không nói và tư tưởng không khởi sinh. Chúng ta đừng lầm lẫn rằng thiền là ngồi như đá vô tri, vì như thế thì chẳng khác nào người đã chết. Tổ nói rằng người chết thì mắt không thấy tai cũng không nghe… thế nhưng không phải như vậy. Ví dụ ở Tây Tạng có các loại thuốc pháp, [cảnh giới] ấy là khi ta nếm thuốc pháp, biết vị nhưng không nói được vị ngọt hay chua. Biết nhưng không nói.

Bởi vì không hiểu được tập nghĩa này nên chúng sinh trở nên đảo điên như dơi cú sống về đêm không biết đến ban ngày, không thấy ánh mặt trời. Đảo điên nghĩa là cho rằng vô thường là thường, vô ngã là ngã, [...] đau khổ là hạnh phúc như cú như dơi không biết được mặt trời chỉ tỏ bóng đêm. 

Đó là vài điểm tinh yếu về thiền.

Bây giờ Tổ sẽ quay lại một chủ đề quen thuộc với mọi người đó là câu chuyện sau khi tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Quốc. Câu chuyện này nhắc đến hai vị Thần Tú và Huệ Năng. Trong phiên bản kinh của Tổ thì cả Thần Tú và Huệ Năng đều là Tổ của Thiền. Ngài Thần Tú chính là quốc sư, Ngài liễu thông tam tạng kinh điển, kiến thức sâu rộng vì thế nên mới là quốc sư. Trong khi đó Ngài Huệ Năng mới chỉ là chú tiểu đến chùa làm phật sự như gánh nước, đốn củi mà thôi. Trong khi chấp hành phật sự ngài có nghe đọc kinh Kim Cang và do căn cơ cao nên chỉ cần nghe kinh Ngài đã đạt được giác ngộ.

Thời đấy, những vị đạt giác ngộ sẽ viết những bài thơ trên tường để thể hiện sự giác ngộ của bản thân. Khi ấy Ngài Thần Tú viết một bài kệ rằng

“Thân như cội bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Luôn siêng năng lau chùi

Chớ để gương dính bụi”.

Ngài Huệ Năng sau khi nghe bài kệ bèn nói với bạn đồng hành ông này chưa kiến tánh. Vị đồng học với Huệ Năng bèn bảo ngài lên viết kệ. Tuy vậy Huệ Năng không biết chữ và phải nhờ vị đồng học viết giùm. Như thế hai vị dắt tay lên Ngài viết

“Thân chẳng phải bồ đề

Tâm chẳng phải đài gương

Xưa nay không học Phật

Lấy gì để mà lau”

Trong sử sách thì ta thường đề cao Tổ Huệ Năng nhưng khi đọc xong bài thơ tổ Hoằng Nhẫn nhìn thấy 2 quan điểm, hai trường phái khác nhau. Đêm đó Ngài bèn phái tổ Huệ Năng đi về phương Nam, tổ Thần Tú đi về phương Bắc, vì thế ta có câu nói ‘nam năng bắc tú’. Truyền thừa Bắc Tú còn gọi là tiệm tu dành cho căn tánh bình thường đi từng bước. Còn thiền của tổ Huệ Năng là dành cho dạng căn cơ cao, gọi là thiền đốn ngộ hay trực tiếp nhận thấy. Trong khi thiền của tổ Thần Tú là tiệm tu, đi từng bước một còn dòng truyền thứ 2 là trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành phật.

Quay lại câu chuyện, thời xưa ở Tây Tạng cũng có 2 truyền thống tiệm tu và đốn ngộ. Có nhiều tranh luận về vấn đề này. Nhưng vào thời đó, vua Tritsong Deusten nhận thấy rằng có nhiều người dân Tây Tạng thậm chí không biết chữ vì thế thiền đốn ngộ vốn chỉ dành cho hạng căn cơ cao là quá khó. Vì thế phải đi theo đường tiệm tu. Tiệm tu là pháp tu chính thống của Tây Tạng lúc bấy giờ. Sử sách của Tây Tạng có nói hai hệ phái Mật Tông và Thiền Tông tranh luận, các vị thiền sư thua bị đuổi đi là không đúng. Dân Tây Tạng tiệm tu phù hợp hơn. Thầy của mẹ nhà vua là thiền sư sao có thể đuổi. Người Tây Tạng do thiền vẫn còn truyền thống thờ Kinh sám hối 35 vị phật, Dược sư, Kim cang bỏ vào sau lưng. Đích thân thầy sang Mỹ gặp người trẻ Tây Tạng tản cư sang đó lấy Kinh Kim Cang ra tụng. Tụng không hiểu nhưng truyền thống làm theo.

---

Giáo lý Đại Thủ Ấn

Trước khi nhận giáo lý chúng ta phải khởi phát Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm chính là [khởi phát tâm rằng] ta thọ nhận không vì lợi ích cho ta hoặc chỉ cho bản thân được giải thoát mà còn cho tất cả hữu tình chúng sinh.

Dòng truyền Kim Cang Thừa khởi sinh từ Ngài Kim Cang Trì chính là pPháp thân phật đến Ngài Tilopa. Ngày nay là ở là Bangladesh giao Myanmar. Tổ đã từng đến hơi có nhiều dòng pháp dân tộc đan xen.

Ban truyền bài ca kim cang. Khi nghe bài ấy tụng đọc và hát người ta đạt được giác ngộ. Đây là tiểu sử tóm lược. Thầy của Marpa là Naropa, một vị học giả nổi tiếng tại Ấn Độ. Ngài là một học giả tinh thông và giảng dạy tại học viện Nalanda. Một ngày đang đọc sách Ngài gặp một bà lão hỏi “ông có hiểu những kinh này không?”. Ngài trả lời, ‘tôi hiểu’. Bà lão ông hiểu chữ hay ông hiểu nghĩa?” Naropa hãnh diện trả lời cả hai. Bà già cười nói chỉ có một người hiểu Tilopa. Ngài hỏi tiếp là tôi có thể gặp ngài Tilopa ở đâu? Bà già trả lời rằng Ngài Tilopa đang phía Đông Ấn Độ. Ngài đã phải đi tìm kiếm vất vả. Tìm được rồi thì theo chân 12 năm trải qua nhiều thử thách, nhiều lần khó khăn xem có nhất tâm theo thầy không. Vì tín tâm sùng mộ lớn lao nhảy xuống vực thẳm, tan xương nát thịt mới được thầy truyền Đại thủ ấn bên sông hằng, tạo nên Đạo ca Đại thủ ấn sông hằng.

Nếu nói về Đại Thủ Ấn, Tổ Atisha khi đi vào Tây Tạng thì triển khai [giáo lý Đại Thủ Ấn thành] thứ lớp dẫn nhập nhưng khởi đầu chính là từ những bài đạo ca này. Những bài ca này chính là tiền thân của Đại Thủ Ấn. Các ghi chép này đã được đưa vào và lưu truyền trong dòng truyền thừa Drikung Kagyu suốt 800 năm và tập hợp thành cuốn sách này.

Trước khi vào bài kệ Tilopa có nói với Naropa rằng: ‘Này đệ tử kham nhẫn và thông minh, do cần cù nên nhờ nhân duyên này con có thể nhận được những giáo lý quý báu này.’

Tâm ta như không gian rỗng rang vậy. Vốn dĩ trong kinh điển có nói bầu trời chỉ có thể nhìn chứ không thể thấy. Chúng ta có thể ngẩng đầu và nhìn được bầu trời nhưng không thể thấy cái gì chứa trong bầu trời. Hãy tưởng tượng nếu chúng ta bay lên cao trong không gian ta sẽ nhìn thấy bầu trời nhưng không thể thấy được đâu là Đông Tây Nam Bắc mà chỉ là khoảng không gian bàng bạc trải rộng. Trạng thái tâm thức của ta cũng như vậy.

Tương tự, khi ta quán tiếp tục vào tâm này cũng vậy. Nếu ta quán chiếu xem tâm mình ở đâu, bộ phận nào có tâm ta sẽ không thấy được. Nói về niệm tưởng cũng vậy. Niệm tưởng quá khứ nhưng quá khứ đã qua, niệm tương lai chưa đến vậy còn hiện tại ở đâu. Kể cả khi ta vừa khởi lên niệm tưởng rằng ‘Hiện tại ở đâu’ thì lập tức nó là đã quá khứ. Như vậy tâm ta nhìn như vậy nhưng không thể thấy, giống như hư không bên ngoài.

Khi đã quán và thấy mọi niệm đều là không thì lục thức cũng là không. Lục thức là mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm vv. Vì truy tìm không thấy nên bản chất cũng là không như bầu trời rỗng khắp không vướng mắc. Trụ như vậy cho đến khi đạt đến giác ngộ.

Khi ta quán sâu vào thân này sẽ không thấy tâm cũng không tìm ra vọng tưởng. Vọng tưởng tự có tự tan đi. Cũng giống như ban đêm trời lạnh thì sương bốc lên và vào hư không tan biến. Sương tự xuất hiện và tự tan biến không đến đâu và không đi đâu. Đó chính là nhân và duyên, vốn dĩ không thực tại. Như sương hình thành là nhờ nhiệt, nhờ hơi nước vv và khi nó tan đi thì mất đi không dính dáng. Niệm tưởng trong tâm này nếu rộng như hư không thì sẽ tan đi như sương mù tan vào không khí.

Như mặt trời trong trẻo và thanh tịnh không bị ngăn che bởi bóng tối của một ngàn đại kiếp. Dẫu có một ngàn đại kiếp trôi lăn trong luân hồi cũng không ngăn được tự tánh chiếu ngời của tâm. Tương tự, dẫu bị trôi lăn trong luân hồi cũng không thể nào mất đi phật tánh.

Như hư không bản chất là rỗng rang thì không có hình dáng gì ta có thể tìm cầu, hình tròn vuông là không có. Dẫu trong ta có phật tánh quang minh toả ngời nhưng không thể dùng cái gì để miêu tả quang minh toả ngời của phật tánh.

Khi không gian vô biên thì tự tánh vốn dĩ không tác duyên. Khi không có tác duyên ta sẽ nhận ra và an trụ trong vô định, trong nhập thất tu học thiền định. Khi đó mọi hoạt động thường ngày, mọi thiện hạnh như trì chú, tụng kinh vv đều không cần thiết. Chỉ trụ tâm vào thiền định mà thôi. Nhập thất, ta sẽ bỏ hết mọi hoạt động bên ngoài chỉ tập trung nhập thất. Khi đó ta thực hành thật sự trực nhận bản tánh rỗng không của tâm. Hiện giờ ta quán mọi hiện tượng là không nhưng đó chỉ là hiểu biết mà chưa có sự xác quyết. Để xác quyết vạn vật thực sự là tánh không cần phải nhập thất.

Thật sự nếu nói về thiền thì đấy không phải một hoạt động hay một hành động. Thiền là để cơ thể được về trạng thái tự nhiên vốn có. Tổ Jigten Sumgon đã nói ‘Thiền không phải là một hoạt động mà chỉ là để cơ thể quen với trạng thái không còn nhị nguyên mà thôi”.

Còn pháp để tu còn tướng để hành thì đó vẫn chưa phải là Đại Thủ Ấn. Càng tham luyến bám chấp càng khó chạm đến thực tánh cuả tâm. Trong Kim Cang Thừa có nhiều mật pháp như thể nhập pháp, giới thể tôn, trí huệ tôn vv. Một khi vẫn còn gì đó ta cho hành trì, vẫn còn phải dựa trên bộ pháp nào thì đó chưa phải là Đại Thủ Ấn. Đại Thừa đi sâu vào cái tâm, vẫn còn tìm tâm, vẫn còn đối tâm. [Như vậy có nghĩa là] vẫn còn tâm để tìm kiếm. Nguyên Thuỷ thừa thì vẫn còn giới luật, vẫn còn thứ phải làm thứ không thể làm. Một khi còn cái gì đó phải làm, phải đi theo tức là vẫn còn tướng. Còn tướng là còn dính chấp mà nếu còn dính chấp sẽ không thể nào đi được đến tự tánh của tâm, đó chính là Phật Tánh.

Không để tâm này bị dính mắc bởi giải thoát hay không giải thoát, bởi tự do hay không tự do. Càng ít dính mắc thì khi đó mới có thể đi sâu vào thực hành Đại Thủ Ấn. Cũng như niệm là gió, tâm là nước vậy, gió càng xoáy thì nước càng xao động. Một khi nước đã xao động thì mặt hồ không còn an nhiên.

Dính chấp vào thành tựu, vào kinh nghiệm cũng không phải đại ấn. Thế nào là dính chấp vào thành tựu? Khi thực hành đại ấn có thể phát sinh một số chứng nghiệm ví dụ thấy tịnh quang, thấy tâm an bình, hỷ lạc, hạnh phúc. Và họ dính chấp vào những trải nghiệm đó, cho đó là chỗ đi. Như vậy là không đúng. Mọi hỷ lạc sinh ra vẫn còn nằm trong tứ thiền và vì vậy dính chấp vào đó vẫn không phai là đại ấn.

Khi hành thiền còn lầm lỗi cũng không phải là Đại Ấn, [lầm lỗi ở đây] gọi là phong bế lục thức. Phong bế lục thức có nghĩa là không để mọi cảm giác du nhập vào trong ta mà cố gắng đi sâu vào định. Như vậy không đúng vì sẽ dẫn đến mệt mỏi và không đưa ta đến giác ngộ. Tổ chia sẻ một câu chuyện về một nữ đệ tử có nói cô đã học thiền 10 năm. Có một giai đoạn khi hành thiền cô đóng hết cửa không cho bất cứ thức nào vào. Có nghĩa là mắt tai mũi lưỡi dừng bặt mọi thức và đi sâu vào thiền định. Sau đó cô không dậy được nữa, có nghĩa là không xuất thiền được khiến cô rất sợ. Phải mất một thời gian mới ra. Cô hỏi tổ phải làm sao? Tổ bèn nói như vậy là không đúng. Thiền không phải là chặn toàn bộ mọi cảm quan. Mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe nhưng tâm không theo đuổi cái thấy và cái nghe đó. Sau đó Tổ yêu cầu cô vê thực hành và báo lại. Vài ngày sau cô gọi cho Tổ và nói rằng phương pháp của Tổ thật là hữu dụng, thật là tốt. Sư Tổ không biết ai dạy cho cô ấy như vậy nhưng ngài không quan tâm, chỉ quan tâm rằng đó là hữu dụng cho cô ấy.

Nói về thiền định thì ta phải thiền như thế nào? Quan trọng nhất của thiền là sống lưng phải thẳng. Không được khom lưng. Trong bản hướng dẫn của Sơ tổ Jigten Sumgon có nói ta phải nhô ngực lên, không được ưỡn mà phải nhô. Không ngồi lên hông, vì khi ta thả lỏng lưng thì [trọng lượng thân thể sẽ] đè lên hông, khi thẳng lưng thì không đè lên hông. Cũng không phải ráng nhướng người lên cao sẽ bị đau. Như vậy lưng phải thẳng, ngực nhô, không ngồi lên hông như thế thân thể ta sẽ nhẹ nhàng. Và khi lưng thẳng thì đường kinh mạch trung ương sẽ thẳng.

Tiếp theo, đối với thiền sinh cơ bản thường sẽ mắc hai lỗi lầm đó là hôn trầm và trạo cử. Hôn trầm nghĩa là buồn ngủ còn trạo cử là nhột nhạt, hoặc trong tâm đầy vọng niệm. Làm sao để đối trị? Phương pháp đối trị biết cách thiền đúng. Tôn chỉ đầu tiên của thiền đúng phương pháp là như Ngài Saraha đã nói “[Hãy thiền] như nữ nhân bà la môn xe chỉ: không nhanh không chậm, không nặng không nhẹ’. Như câu chuyện về thiền mình biết Đức Phật day người đánh đàn không được quá căng không được quá chùng.

Cách đối trị khi trạo cử, nghĩa là vọng tưởng khởi lên nhiều, là tư thế đúng nhưng tâm phải thả ra, thả ra mọi ngột ngạt trong cơ thể. Tư thế vẫn vậy nhưng phải thả trong tâm. Đối với người bị hôn trầm, cũng với tư thế như vậy nhưng bên trong căng hơn một chút, mắt mở to hơn một chút như thế sẽ giúp mình xua tan cơn buồn ngủ.

Vấn đề chính yếu đối với thiền sinh đó là không có điều khiển được tâm mình. Với cuộc sống hiện tại quá nhiều bận rộn sao nhãng thì lại càng khó khăn hơn để điều phục tâm. Giờ đây ai cũng có ĐTDD, ai cũng cúi đầu đọc điện thoại, ăn cơm cũng đọc điện thoại khiến cho tâm càng thêm cuồng loạn. Các Tổ đời xưa có nói ‘tâm viên ý mã’ có nghĩa là tâm này như một con khỉ vậy. Tổ bèn nói rằng bây giờ có lẽ tâm còn hơn khỉ rồi khó mà điều phục được. Để đối trị với điều này thì có nhiều cách mà các truyền thống Nguyên Thuỷ Thừa, Nam Tông ở Thái lan, Myanmar áp dụng để đối phó tâm thô vô cùng thú vị. Ví dụ ta có thể thiền hành, hoặc quán đề mục là một vật chất rắn để đối trị tâm thô. Ví dụ như khi hành thiền. Khi chân mình bước cảm nhận chân mình chạm đất, khi nhấc lên, chạm đất cảm nhận liên tục theo bước chân sẽ kéo cái tâm của mình về với định.

Những hoạt động bình thường sẽ làm khí tán loạn dẫn đến tâm tán loạn. Cách đối trị chính là thiền quán hơi thở. Như quý vị đã biết Đức Thích Ca sau bao năm sai hướng, khi đã đạt được giác ngộ Ngài đã thuyết giảng phương cách thực hành thiền bằng hơi thở. Hơi thở vào ra thì tâm ngưng, hơi thở vào ra tĩnh tâm lại. Các trường phái thiền vipassana ứng dụng pháp hành này cực kỳ hữu dụng.

Hữu dụng đức thích ca truyền bá pháp môn này đến mức các vị ngoại đạo Bà La Môn, trong các khoá An Cư Kiết Hạ chư vị hỏi ‘Các sa môn làm gì?’ Đức Phật trả lời ‘Các sa môn quán chiếu hơi thở vào ra’

Có một bộ kinh phật giảng về hơi thở rất nổi tiếng là bộ Kinh Quán Niệm Hơi Thở. Tổ nói rằng bộ kinh này có lẽ rất quen thuộc với người Việt Nam vì chúng ta có thầy Thích Nhất Hạnh hoằng dương bộ kinh này rất nhiều. Bộ kinh này được truyền bá từ thế kỷ thứ 2 lấy từ TQ đưa vào Việt Nam. [Phương pháp thực hành là] hơi thở vào ra đếm 1-2-3 đếm đến 10 lại bắt đầu lại từ đầu. Người nào bị tán tâm đếm hay quên khi đếm đến 5-6 sẽ bị lộn. Như vậy phải đếm lại. Dần dần khi chú tâm vào hơi thở vào ra đều đặn ta sẽ giữ tâm bình lặng và giảm bớt tâm vọng tưởng rất nhiều.

Có lẽ ở phương tây cuộc sống quá vất vả mệt nhọc nên họ yêu thích pháp thiền đóng giác quan để cắt hết mọi đau khổ phiền não. Nhưng như Tổ đã giảng lúc nãy như vậy là không đúng. Thiền đúng là như thế nào? Đầu tiên phải ngồi đúng. Ngồi đúng thế thiền định như kim tự tháp có ba điểm. Hít thở nhưng  phải biết rõ biết. Mắt thấy vật thể chứ đừng để mắt đơ ra khiến ta nhìn thấy một vật thành hai vật. Tai cũng lắng nghe nhưng đừng để tâm mình đặt tên, định dạnh cho vật ấy. Bởi vì khi đã đặt tên, khi đã định danh là như vậy vọng tưởng đã nổi lên. Hãy nhớ rằng không hướng tâm ra ngoài mà quay mình vào bên trong. Quay vào bên trong và tự vấn: ai đang thấy, ai đang nghe, ai đang cảm giác?

Sau đây tổ sẽ nói về Kiến – Thiền – Hành. Kiến là không còn dính chấp đến cả tánh không. Khi ta còn nói về tánh không thì tự thân nó cũng là một niệm tưởng, một dính chấp. Không vướng mắc vào đó gọi là vua của kiến. Tổ Jigten Sumgon có nói an trụ trong thiền định, liên tục suốt tam thời đó gọi là vua của thiền. Vua của hành nghĩa là không cố gắng chặn các niệm tưởng, hãy để tự nó nảy sinh và tự tan biến. Khi tâm không còn nghi ngờ nảy sinh đó chính là vua định. Đấy là gốc rễ của Đại Thủ Ấn.

Đại Thủ Ấn là đoạn tuyệt các vọng niệm, như thế Đại Thủ Ấn có thể tiêu huỷ toàn bộ luân hồi. Cũng như một cái cây bị chặt từ gốc thì dù cành lá sum suê hoa quả thế nào đi nữa mà đã bị chặt tận gốc cũng sẽ lụi tàn. Như thế khi ta đoạn tuyệt vọng niệm, mọi nhân khởi dẫn đến luân hồi cũng hoàn toàn tan biến.

Thực hành Đại Ấn vô cùng lợi lạc vì [pháp ấy] xua được vô minh. Cũng như ánh lửa nhỏ chỉ cần loé lên bóng đêm sẽ lập tức được đẩy lùi.

Ôi những kẻ vọng tâm không thể nào tự tìm đươc chân tâm. Hãy để thực tánh tự hiển lộ. Như ao hồ vẩn đục đừng nên đụng vào mà chỉ nên để lắng đọng. Vạn tướng hiện tượng chỉ để nó tự hiển hiện. Khi nó tự hiện lên đó chính là đại thủ ấn.

Trong tiếng Tạng có từ Rigpa tạm dịch là tánh giác. Tánh giác vô cấu nghĩa là tánh giác không nhiễm bẩn. Ví như thuỷ ngân khi quăng vào đất cũng không bị hoà vào bụi đất. Tánh giác vô cấu thể hiện cho việc khi mới thực hành cần chỗ riêng tư còn khi đạt đến trạng thái vô cấu rồi thì dù mọi việc có thể hiện ra thế nào cũng không ảnh hưởng đến mình nữa. Khi đạt đến trạng thái vô cấu thì mọi sự sẽ đều hiển hiện như là trạng thái của Đại Thủ Ấn.

Tiếp theo là 3 bước thể nhập tam muội. Đoạn đầu tiên tâm ta như ghềnh thác chảy mạnh và xối xả. Đoạn 2 tâm như sông Hằng tuy êm ả nhưng vẫn còn gợn sóng. Đoạn ba là tâm tan vào biển cả lắng đọng. Đó là ba bước. Ba bước này như sáng nay tổ đã kể câu chuyện về Tổ Thần Tú, trước khi nhập niết bàn đã để lại ba chữ Chặn – Chuyển – Trực.  [Lúc đầu ta phải] chặn là bởi tâm này có rất nhiều vọng tưởng nên thời gian đầu cần nỗ lực chặn lại. Để chặn lại được vọng tưởng cần phải có nỗ lực. Sau đó thì tâm của ta lúc được lúc không, lúc ổn lúc bất ổn. Khi đó ta phải chuyển tâm. Khi tâm đã ngay thẳng rồi nó trực chỉ đi luôn. Về ba chữ này thì các vị học giả đã tranh luận rất nhiều. Có vị nói rằng ba chữ này tượng trưng như con rắn: cuộn, bò, và chui vào hang. Như cách đi của ngài Thần Tú, đối với tâm thô ta cần phải có sự nỗ lực. Sau đó có lúc tâm ta sẽ an định có lúc tâm ta không an định. Và cuối cùng tâm ấy sẽ như trăm sông hoà vào một biển.

Tiếp theo Tổ sẽ truyền tụng bản nguyện về câu minh chú om ma ni padme hung có 8 giai điệu tụng khác nhau nên trong dòng Drikung còn gọi là Đoá Hoa Tám Cánh.

Nhóm Tâm Ấn đánh máy lại từ bài giảng. Minh Tâm trình bày

 

Trang web của dòng Truyền thừa Drikung Kagyu tại Việt nam

www.drikungvn.org

logo21

Thống kê website

339854
Hôm nayHôm nay26
Hôm quaHôm qua152
Tuần nàyTuần này134
Tháng nàyTháng này3700
Tất cảTất cả339854
Cao nhất 11-30-2017 : 1313
Khách 2
Người đã đăng ký 1

Facepage

Mạng xã hội